- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc A - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 128/2026/HS-ST Ngày: 30-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Ngọc Phương;
2. Ông Trịnh Văn Lực.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 – thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 – thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 126/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1996 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Đội 15, Xóm H, xã C, huyện T, tỉnh Nghệ An (nay là xã C, tỉnh Nghệ An); nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1975 và bà Trần Thị S, sinh năm 1975; có 01 người em sinh đôi, sinh năm 1996; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 24/12/2024, bị Công an phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là Công an phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 5.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và mang theo công cụ hỗ trợ, vũ khí thô sơ (chưa chấp hành nộp phạt).
Nhân thân:
- Tại Bản án số 402/2015/HS-ST ngày 30/9/2015 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (nay là Toà án nhân dân Khu vực 1 – Nghệ An), Nguyễn Ngọc A bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi bổ sung năm 2009). Chấp hành án phạt tù tại Trại giam Đ1, đến ngày 22/4/2016 chấp hành xong hình phạt tù (theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 296/GCN ngày 22/4/2016 của Trại giam Đ1), đã đóng án phí ngày 29/12/2015 (đã chấp hành xong bản án).
- Tại Bản án số 149/2022/HS_ST ngày 26/5/2022 của Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Ngọc A bị xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), chấp hành án phạt tù tại Trại giam H1, đến ngày 30/01/2023 chấp hành xong hình phạt tù (theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù ngày 30/01/2023 của Trại giam H1), đã đóng án phí ngày 06/2/2023 (đã chấp hành xong bản án). Bị cáo bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 21/04/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 06/4/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng:
Ông Bùi Huy H, sinh năm 1983. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Ngọc A là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý loại đá (Methamphetamine). Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 06/4/2025, Nguyễn Ngọc A đi bộ trên đường nội bộ thuộc khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh thì gặp một người bạn quen biết ngoài xã hội tên B là đối tượng sử dụng ma tuý, Nguyễn Ngọc A hỏi xin Bin ma túy loại đá để sử dụng thì B nói Nguyễn Ngọc A chờ Bin một lúc. Sau đó, B điều khiển xe mô tô (không rõ nhãn hiệu, biển số) đi. Khoảng 05 phút sau, B điều khiển xe quay lại đưa cho Nguyễn Ngọc A một gói nylon miệng hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy loại đá. Ngọc A cất giấu gói nylon bên trong chứa ma túy loại đá vào trong túi quần bên trái đang mặc trên người và đi bộ để tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày 06/4/2025, khi Nguyễn Ngọc A đi bộ đến trước nhà số B, đường T, khu phố D, phường A thì bị lực lượng tuần tra Công an phường A kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Nguyễn Ngọc A lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc trên người ra một gói nylon miệng hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng giao nộp cho lực lượng Công an và khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy loại đá được Nguyễn Ngọc A cất giữ nhằm mục đích để sử dụng. Công an phường A lập biên bản bắt người phạm quả tang và giao Nguyễn Ngọc A cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon miệng hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M).
Tại Bản Kết luận giám định số 1591/KL-KTHS ngày 13/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là Phòng K Công an Thành phố H) kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/ trọng lượng: 0,5921 gam.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bì thư được niêm phong ghi số 1591/PC09 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là Phòng K Công an Thành phố H) chứa ma tuý hoàn lại sau giám định là vật cấm nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Bản Cáo trạng số 257/CT-VKS-KV16 ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 -Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ 01 bì thư có ký hiệu 1591/PC09 bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định.
Đối với người thanh niên tên B cung cấp ma tuý cho Nguyễn Ngọc A, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 06/4/2025, tại khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Ngọc A đã có hành vi cất giấu trái phép 0,5921 gam ma tuý, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc A đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật Hình sự và sẽ bị xử lý nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả và pháp luật. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Bản thân bị cáo đã từng bị xử phạt về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý không lấy đó làm bài học cho bản thân mà xem thường pháp luật. Vì vậy, phải xét xử mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử lý vật chứng:
- 01 bì thư được niêm phong ghi số 1591/PC09 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là Phòng K Công an Thành phố H) chứa ma tuý hoàn lại sau giám định là vật cấm, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người thanh niên tên B cung cấp ma tuý cho Nguyễn Ngọc A, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 89; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2025.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bì thư có ký hiệu 1591/PC09 bên trong có chứa ma túy còn lại sau giám định.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/3/2026)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Nguyễn Ngọc A phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ có quyền kháng cáo bản án trong 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 16 – thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND thành phố Hồ Chí Minh; - Công an thành phố Hồ Chí Minh; - Phân trại tạm giam Lái Thiêu ; - Chi cục THADS thành phố Hồ Chí Minh; - TAND thành phố Hồ Chí Minh; - Sở tư pháp thành phố Hồ Chí Minh; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Bị cáo; - Lưu: VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Hạnh |