- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYEN THI HONG XUAN - HOANG VAN V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng X đối với bị đơn ông Hoàng Văn V về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”;
- Căn cứ chính? Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật Tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2026/HNGĐ-ST Ngày 09-9-2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bích Hằng.
2. Bà Huỳnh Thị Thùy Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 512/2026/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hồng X, sinh năm 2002; nơi thường trú: Ấp L, xã L, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: Số B, đường Đ, tổ D, khu phố P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Hoàng Văn V, sinh năm 1995; nơi thường trú: Thôn B, xã C, tỉnh Tuyên Quang; tạm trú: Số B, đường Đ, tổ D, khu phố P, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Hồng X là nguyên đơn trình bày:
Bà Nguyễn Thị Hồng X và ông Hoàng Văn V kết hôn năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã L, tỉnh Đồng Tháp). Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.
Sau khi kết hôn bà Nguyễn Thị Hồng X và ông Hoàng Văn V sinh sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp dẫn đến bất đồng điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không hàn gắn được. Sau khi bà X khởi kiện thì vợ chồng ly thân, ông V đi đâu và làm gì bà X không biết. Bà X xác định không còn tình cảm với ông V và vợ chồng không hàn gắn được nên yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông V.
Bà Nguyễn Thị Hồng X và ông Hoàng Văn V có 01 con chung tên Hoàng Ngọc An N, sinh ngày 24/6/2023. Hiện nay cháu N sống cùng với bà X nên bà X yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N. Bà X làm công nhân thu nhập đảm bảo nuôi con và còn có sự hỗ trợ của gia đình trong việc chăm sóc cháu N nên không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Hoàng Văn V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt, không tham gia tố tụng và không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng X, không có yêu cầu phản tố đối với vụ án.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng X vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn ông Hoàng Văn V đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật; bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Bị đơn ông Hoàng Văn V có nơi cư trú tại phường B, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng X vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Hoàng Văn V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
Về nội dung:
Bà Nguyễn Thị Hồng X và ông Hoàng Văn V có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã L, tỉnh Đồng Tháp), theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21/2023, ngày 16/02/2023 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại các điều 8, 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị Hồng X và ông Hoàng Văn V phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân, không hàn gắn được. Bà X xác định không còn tình cảm với ông V nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà X được ly hôn với ông V. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông V để hòa giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng ông V vắng mặt không có lý do, điều này chứng tỏ ông V không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Hồng X và ông Hoàng Văn V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà X yêu cầu ly hôn với ông V là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hồng X và ông Hoàng Văn V có 01 con chung tên Hoàng Ngọc An N, sinh ngày 24/6/2023. Bà X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Xét thấy, cháu N là con gái và hiện cháu còn nhỏ, đang sống cùng bà X nên việc giao cháu N cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là chính đáng, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung và phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025;
Căn cứ Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 84 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng X đối với bị đơn ông Hoàng Văn V về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”;
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng X được ly hôn với ông Hoàng Văn V.
- Về con chung: Giao cháu Hoàng Ngọc An N, sinh ngày 24/6/2023 cho bà Nguyễn Thị Hồng X trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của người không trực tiếp nuôi con.
Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con khi xét thấy cần thiết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng X phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020718 ngày 03/4/2026.
3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 15 – TP. Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh; - UBND X. Long Khánh, T. Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nga |