- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Hồng N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2025/HS-PT Ngày 30 – 9 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Miễn
Các Thẩm phán:
Ông Trần Minh Tân
Ông Bùi Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Khả Khiêm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Mộng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 116/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 9 năm 2025, do có kháng cáo của bị cáo Bùi Hồng N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Bùi Hồng N, sinh ngày 09/4/1987, tại tỉnh Cà Mau;
Nơi cư trú: Khóm 6B, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời (nay là ấp 6B, xã Sông Đốc), tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Việt Quân (đã chết) và bà Trần Thị Thoa; chồng là Nguyễn Văn Ngoan (đã ly hôn) và có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt giữ trong trường hợp phạm tội quả tang từ ngày 31/12/2024 đến ngày 09/01/2025 được Hủy bỏ biện pháp tạm giữ và cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/01/2025 cho đến nay; bị cáo tại ngoại; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Nuôi – Luật sư của Văn phòng luật sư Ánh Sáng thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Phương Bắc, sinh năm 1991; nơi cư trú: Khóm 11, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (nay là xã Sông Đốc, tỉnh Cà Mau); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện chủ trương về Dự án đầu tư xây dựng khu tái định cư khóm 6B, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (viết tắt Dự án), ngày 31/10/2022, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau (viết tắt Chủ tịch UBND tỉnh) ban hành Quyết định số: 2659/QĐ-UBND về việc phê duyệt Dự án và giao Ban quản lý dự án xây dựng công trình giao thông Cà Mau (viết tắt Ban quản lý dự án) làm chủ đầu tư Dự án.
Ngày 01/8/2023, Ban quản lý dự án phối hợp với các đơn vị liên quan, Hội đồng bồi thường, Uỷ ban nhân dân thị trấn Sông Đốc (viết tắt UBND thị trấn) tiến hành bàn giao mốc, phạm vi dự án; các cột mốc bằng bê tông có sơn đỏ; mốc ranh dự án, mốc tọa độ được bàn giao ngoài thực địa đúng với hồ sơ thiết kế được phê duyệt Dự án.
Thực hiện Thông báo số: 69/TB-VP ngày 11/9/2023 của Văn phòng Hội đồng nhân dân và UBND huyện Trần Văn Thời về việc giải phóng mặt bằng Dự án; Kết luận của Chủ tịch UBND huyện tại cuộc họp ngày 20/12/2024, theo đó giao UBND thị trấn xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh trật tự thi công gói thầu số 13: Thi công san nền cho toàn Dự án.
Ngày 27/12/2024, Trưởng Công an huyện Trần Văn Thời xây dựng Phương án số: 88/PA-CAH phân công lực lượng hỗ trợ Công an thị trấn Sông Đốc tham gia đảm bảo an ninh trật tự thi công từ lúc 07 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, nhằm đảm bảo an ninh trật tự tại cuối tuyến đường ống thi công và xử lý tình huống. Tổ 2 gồm 35 cán bộ, trong đó, Đại úy Nguyễn Phương Bắc thuộc Cán bộ Công an thị trấn Sông Đốc có Nệm vụ trực tiếp đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực cuối tuyến đường ống thi công, không cho người không có phận sự tiếp cận phương tiện thiết bị thi công; tổ có trách Nệm tuyên truyền vận động giải thích cho người dân hiểu chấp hành các quy định của pháp luật đảm bảo tuyệt đối an toàn cho người và phương tiện tham gia thi công; phát hiện ngăn chặn bắt giữ các đối tượng có hành vi quá khích chống đối cản trở việc thi công theo quy định của pháp luật.
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, hoạt động thi công bắt đầu thực hiện thì có nhóm người gồm thân nhân của gia đình bà Thoa đến la hét, ngăn cản. Lực lượng chức năng đã mời đại diện nhóm người này là ông Trần Văn Hận làm việc và ký cam kết không la hét, ngăn cản đơn vị thi công.
Khoảng 08 giờ ngày 31/12/2024, có nhóm người gồm: Trần Thị Thoa, Trần Công Lập, Trần Trọng Nhân, Ngô Bích Thảo, Đoàn Ngọc Thụy, Nguyễn Trúc Linh, Trần Trọng Nghĩa, Trần Minh Trường đến khu vực thi công yêu cầu lực lượng đang bảo vệ phải cho họ vào khu vực thi công để gặp Chủ tịch UBND thị trấn. Lực lượng bảo vệ an ninh trật tự không đồng ý, đồng thời giải thích: Khu vực thi công đã được phong tỏa, người dân không phận sự không được vào và hướng dẫn cho họ trực tiếp đến trụ sở UBND thị trấn Sông Đốc hoặc Cơ quan cấp trên để nơi đây xem xét giải quyết. Tuy Nên, các đối tượng này không đồng ý, dùng lời lẽ thô tục, lớn tiếng la lối, xô đẩy, giựt lá chắn lực lượng bảo vệ, yêu cầu phải dừng thi công chờ kết quả giải quyết.
Lúc này, Bùi Hồng N đi đến và nghe thấy tiếng la hét, ồn ào, xô đẩy của nhóm bà Thoa và N có hành vi la lối lớn tiếng và đòi vào phía bên trong khu vực đang thi công. Lúc này bà Thoa, bà Linh, bà Thảo, ông Nghĩa, ông Trường vẫn còn đang la lối. Bà Thoa dùng tay giật đứt dây giăng bảo vệ, giật khiên chắn của lực lượng làm Nệm vụ nên bị lực lượng Công an khống chế. N xông đến lực lượng làm Nệm vụ và nhìn thấy Đại úy Nguyễn Phương Bắc đang vận động, thuyết phục thì N dùng tay cởi nón bảo hiểm (loại nón kết, màu trắng) đang đội trên đầu, cầm bằng tay trái đánh một cái theo hướng từ trên xuống trúng vào vùng đầu của ông Bắc làm ông Bắc bị thương tích. Thấy vậy, lực lượng Công an thị trấn Sông Đốc tiến hành khống chế, bắt giữ và lập biên bản đối với Bùi Hồng N. Đồng thời, bố trí lực lượng đưa ông Bắc đến Bệnh viện Đa khoa huyện Trần Văn Thời điều trị thương tích.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 06/KLTTCT-TTPY ngày 08/01/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau kết luận: 01 vết rách da trán trái (dưới chân tóc) kích thước 03cm x 0,7cm: 06%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra; 01 vết sẹo môi dưới bên trái kích thước 0,3cm x 0,2cm: 01%, do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra; 01 vết xây xát da trán trái kích thước 1,5cm x 0,5cm, không xếp tỷ lệ %; 01 vết xây xát da trên đuôi mày trái kích thước 01cm x 0,3cm, không xếp tỷ lệ %; 01 vết xây xát da sau đuôi mắt trái kích thước 2,5cm x 0,5cm, không xếp tỷ lệ %; 01 mãng xây xát da vùng cổ phải kích thước 02cm x 01cm, không xếp tỷ lệ %; 01 mãng bầm và xây xát da 1/3 trên mặt trước cẳng tay phải kích thước 08cm x 07cm, không xếp tỷ lệ %. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Phương Bắc tại thời điểm giám định là: 07%.
Ông Nguyễn Phương Bắc không yêu cầu gì về trách Nệm dân sự, chỉ yêu cầu xử lý Bùi Hồng N về hành vi chống người thi hành công vụ theo quy định của pháp luật.
Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau, đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của UBTV Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Bùi Hồng N 01 (một) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Ngày 14/8/2025, bị cáo Bùi Hồng N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HSST ngày 01/8/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Gia đình bị cáo có lớn tiếng và xô đẩy với các cán bộ có mặt tại nơi thi công và nghe tiếng la của mẹ bị cáo thì bị cáo nghĩ rằng mẹ bị đánh nên bị cáo có hành vi dùng nón đánh ông Bắc. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân không tiền án, tiền sự và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có tự nguyện nộp 2.000.000đ để bồi thường tiền điều trị cho ông Bắc và ông Bắc không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Ông ngoại của bị cáo có công với đất nước được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Bị cáo một mình đang nuôi con nhỏ. Hiện tại bị cáo đang mang thai. Mức án 01 năm tù là quá nghiêm khắc đối với bị cáo; yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
- Bị cáo: Thống nhất với lời bào chữa của luật sư; bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Thực hiện Dự án đầu tư xây dựng khu tái định cư khóm 6B, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Ngày 30/12/2024, Công ty Cổ phần đầu tư xây lắp 6 tiến hành thi công san nền cho toàn Dự án. Để đảm bảo an ninh trật tự cho việc thi công và xử lý tình huống, Công an huyện Trần Văn Thời có thành lập và phân công lực lượng Công an làm Nệm vụ bảo vệ an ninh trật tự trong thi công. Đại úy Nguyễn Phương Bắc thuộc cán bộ Công an thị trấn Sông Đốc được phân công làm Nệm vụ ở Tổ 2.
Khoảng 08 giờ ngày 31/12/2024, thì Trần Thị Thoa, Trần Công Lập, Trần Trọng Nhân, Ngô Bích Thảo, Đoàn Ngọc Thụy, Nguyễn Trúc Linh, Trần Trọng Nghĩa, Trần Minh Trường đến khu vực đang thi công yêu cầu cho vào khu vực thi công để gặp Chủ tịch UBND thị trấn Sông Đốc, lực lượng bảo vệ an ninh trật tự không đồng ý và giải thích là: Khu vực thi công đã được phong tỏa, người dân không phận sự không được vào và hướng dẫn cho nhóm người này trực tiếp đến trụ sở UBND thị trấn hoặc Cơ quan cấp trên để nơi đây xem xét giải quyết. Tuy Nên, các đối tượng này không đồng ý, dùng lời lẽ thô tục, lớn tiếng la lối, xô đẩy, giựt lá chắn lực lượng bảo vệ. Lúc này, Bùi Hồng N nghe tiếng la hét, ồn ào, xô đẩy của nhóm bà Thoa (mẹ ruột bị cáo N) nên N đến la lối lớn tiếng và đòi vào phía bên trong khu vực đang thi công. Lúc này bà Thoa, bà Linh, bà Thảo, ông Nghĩa, ông Trường vẫn đang la lối, bà Thoa dùng tay giật đứt dây giăng bảo vệ, giật khiên chắn của lực lượng làm Nệm vụ nên bị lực lượng Công an khống chế. N liền xông đến lực lượng đang làm Nệm vụ bảo vệ lấy nón bảo hiểm (loại nón kết, màu trắng) bị cáo đang đội đánh Đại uý Nguyễn Phương Bắc trúng vào vùng đầu làm ông Bắc bị thương tích. Thấy vậy, lực lượng Công an thị trấn Sông Đốc tiến hành khống chế, bắt giữ và lập biên bản bắt người đối với Bùi Hồng N. Đồng thời, bố trí lực lượng đưa ông Bắc đến Bệnh viện Đa khoa huyện Trần Văn Thời điều trị thương tích.
Như vậy, bị cáo N có hành vi dùng nón bảo hiểm tấn công Đại úy Nguyễn Phương Bắc là Công an thị trấn Sông Đốc đang được phân công làm Nệm vụ bảo vệ khu vực thi công. Động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo là chống đối và nhằm làm cản trở việc thi công Dự án cũng như chống đối lại lực lượng Công an đang làm Nệm vụ. Hành vi này của bị cáo đã xâm phạm đến việc thực hiện Nệm vụ của ông Bắc và lực lượng đang làm Nệm vụ bảo vệ việc thi công Dự án.
Đối với hành vi bị cáo gây thương tích 07% cho ông Bắc bằng hung khí là nón bảo hiểm. Hành vi này đã xâm phạm đến sức khoẻ của ông Bắc, có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự về xâm phạm sức khoẻ của người khác. Tuy Nên, như đã nhận định trên, động cơ và mục đích phạm tội của bị cáo là nhằm vào việc cản trở việc thi công Dự án cũng như chống đối việc thực thi Nệm vụ của ông Bắc và lực lượng chức năng. Do đó, án sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội Chống người thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự là có căn cứ thoả đáng và đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo:
Đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét đơn kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.
Án sơ thẩm đã xem xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra; xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách Nệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc tội phạm ít nghiêm trọng; nhân thân không tiền án, tiền sự; bị cáo có ông ngoại tham gia cách mạng được tặng Huân chương. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để từ đó án sơ thẩm quyết định mức hình phạt 01 năm tù đối với bị cáo là tương xứng.
Đối với việc bị cáo xin hưởng án treo: Mặc dù bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bản thân là nữ, nhất thời phạm tội, nhận thức pháp luật về hành vi của mình có hạn chế. Tuy Nên, hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo mang tính chất nghiêm trọng; thể hiện sự chống đối quyết liệt, có tính chất tham gia Nều người, tạo nên điểm nóng về an ninh trật tự ở địa phương; hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo còn gây ra thương tích cho lực lượng làm Nệm vụ. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới là bị cáo đang mang thai. Song, tình tiết giảm nhẹ mới này không làm giảm bớt tính nguy hiểm về hành vi phạm tội, tính chất của vụ án mà bị cáo gây ra. Để đảm bảo được sự đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương nhất là các tội xâm phạm đến lĩnh vực thi hành Nệm vụ của lực lượng chức năng; để đảm bảo tính răn đe và phòng chống tội phạm, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
[3] Yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ.
[4] Các phần khác của bản án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Hồng N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326 của UBTV Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Hồng N 01 (một) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, nhưng được trừ thời gian tam giữ từ ngày 31/12/2024 đến ngày 09/01/2025.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Bùi Hồng N phải chịu 200.000 đồng.
3. Các phần khác của bản án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - TAND Khu vực 3 - Cà Mau; - VKS nhân dân Khu vực 3 - Cà Mau; - Phòng THADS Khu vực 3 - Cà Mau; - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HS; án văn; - Lưu VT( TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trịnh Xuân Miễn |