- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Ngọc Hương - Nguyễn Văn Bảnh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Phạm Ngọc H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30- 9 -2025 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Hoàng Mích
2. Ông Bùi Tuấn Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyết là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2025/QĐXXT-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Ngọc H, sinh ngày 07/8/1984 (Vắng mặt)
Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ cư trú: Ấp 1, xã T, huyện B, tỉnh T (Nay là ấp 1, xã P, tỉnh V).
- Bị đơn: Nguyễn Văn B, sinh ngày 10/12/1978 (Vắng mặt)
Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ cư trú: Ấp 1, xã T, huyện B, tỉnh T (Nay là ấp 1, xã P, tỉnh V).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn đề ngày 20/12/2024, bản tự khai đề ngày 27/8/2025, nguyên đơn chị Phạm Ngọc H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn B kết hôn năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận 2, thành phố H (Nay là phường A, thành phố H). Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chồng thường xuyên uống rượu chưởi chị, cầm dao hăm dọa, đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh B không thay đổi dẫn đến vợ chồng sống không hạnh phúc, thường xuyên cải vã, không còn quan tâm lẫn nhau và sống ly thân, mỗi người sống riêng, không hàn gắn tình cảm được cho đến nay. Quá trình chung sống, chị và anh B có với nhau 02 con chung tên Nguyễn Mạnh K sinh ngày 13/7/2003 và Nguyễn Mạnh D sinh ngày 21/01/2013 chị đang nuôi dưỡng. Tài sản chung và nợ chung: Không có.
Chị Phạm Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
- Về con chung: Ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Mạnh D, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng con chung Nguyễn Mạnh K đã thành niên, có khả năng lao động không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Phạm Ngọc H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 15/9/2025.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn B các lần Tòa án triệu tập hòa giải, xét xử đến lần thứ hai đều vắng mặt nên không có lời khai.
*Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với Thẩm phán phân công giải quyết án xác định đúng quan hệ tranh chấp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn có chấp hành tốt theo Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn các lần hòa giải đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Ngọc H. Về con chung: Chị Phạm Ngọc H được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Mạnh D, ghi nhận chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung Nguyễn Mạnh K đã thành niên, có khả năng lao động nên không xét đến. Tài sản chung, nợ chung: Chị H khai không có nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Chị Phạm Ngọc H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 15/9/2025 (Bút lục số 46). Bị đơn anh Nguyễn Văn B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, được Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để hòa giải, xét xử đến lần thứ 2 nhưng anh B đều vắng mặt. Căn cứ khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H, anh B là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Phạm Ngọc H và anh Nguyễn Văn B kết hôn năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận 2, thành phố H (Nay là phường A, thành phố H), phù hợp quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị H trình bày là do anh B thường xuyên uống rượu chưởi chị, cầm dao hăm dọa, đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh B không thay đổi dẫn đến vợ chồng sống không hạnh phúc, thường xuyên cải vã, không còn quan tâm lẫn nhau và sống ly thân, mỗi người sống riêng, không hàn gắn tình cảm được cho đến nay. Chị H vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh B. Anh B không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu ly hôn của chị H. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị H và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét thấy, yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh B là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung:
Chị Phạm Ngọc H khai, chị và anh B chung sống có với nhau 02 con chung tên Nguyễn Mạnh K sinh ngày: 13/7/2003 và Nguyễn Mạnh D sinh ngày 21/01/2013, cháu D hiện đang học ở Học viện H. Ly hôn chị Hương có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Mạnh D. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại biên bản hỏi ý kiến con chung trên 07 tuổi ngày 10/9/2025, con chung Nguyễn Mạnh D có nguyện vọng sống với bố, anh B. Mặc dù, biên bản ghi ý kiến con chung Nguyễn Mạnh D có nguyện vọng sống với bố, anh B nhưng quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, anh đều vắng mặt, nuôi dưỡng con chung anh B cũng không có ý kiến phản hồi gửi đến Tòa án. Việc chăm sóc con chung sau khi ly hôn là nghĩa vụ của cha và mẹ, con chung sống với ai thì cha mẹ cũng đều có nghĩa vụ ngang nhau và cùng nhau chăm sóc đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Do đó, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Mạnh D là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật theo Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Chị H nuôi dưỡng con chung Nguyễn Mạnh D không yêu cầu anh Bảnh cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy đây là sự tự nguyện của chị H nên Hội đồng xét xử ghi nhận, không xem xét giải quyết là phù hợp.
Riêng con chung Nguyễn Mạnh K sinh ngày: 13/7/2003 đã thành niên, có khả năng lao động, chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Tài sản chung, nợ chung:
Chị Phạm Ngọc H khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa về việc giải quyết vụ án hôn nhân, nuôi dưỡng con chung, tài sản chung và nợ chung là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, diễn biến tại phiên tòa và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 04 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Phạm Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 233, 238, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Phạm Ngọc H.
2. Chị Phạm Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
3. Về con chung: Chị Phạm Ngọc H được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 21/01/2013. Ghi nhận chị Phạm Ngọc Hương không yêu cầu anh Nguyễn Văn Bảnh cấp dưỡng nuôi con chung.
Trong thời gian con chung Nguyễn Mạnh D của chị Phạm Ngọc H và anh Nguyễn Văn B chưa thành niên (Chưa đủ 18 tuổi), chị H có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh B có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Riêng con chung Nguyễn Mạnh K sinh ngày: 13/7/2003 đã thành niên, có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xét đến
4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Ngọc H khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.
5. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Chị Phạm Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000535 ngày 21 tháng 7 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, chị H đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long (Phòng KTNV&THA); - VKSND khu vực 8 – Vĩnh Long; - Phòng THADS khu vực 8 – Vĩnh Long; - UBND phường A, quận 2, thành phố H (Nay là phường A, thành phố H), số 111, quyển số I/2002, ngày 30/12/2002; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Hồng Phương |