vanban.org

Bản án 128/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị T. Chị Trương Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Quang L.

Về nuôi con sau ly hôn: Chị Tuyết và anh L có hai con chung là Nguyễn Quang Duy M sinh ngày 15/5/2016 và Nguyễn Hà Bảo Nh sinh ngày 8/6/2013. Giao cả hai con chung là cháu M và cháu Nhi cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L đến khi con chung trưởng thành hoặc có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị T xin ly hôn Nguyễn Quang L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị T. Chị Trương Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Quang L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2025/HNGĐ - ST
Ngày 09/5/2025
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Trịnh và ông Đỗ Quang Huy

- Thƣ ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê Mai – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 103/2025/TLST-HNG§ ngµy 17 th¸ng 4 n¨m 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị T, sinh năm 1994 (Có mặt)

HKTT và chỗ ở: Thôn Th, xã Y, huyện X, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quang L, sinh năm 1988 (Có đơn xin xử vắng mặt)

HKTT và chỗ ở: Thôn Th, xã Y, huyện X, thành phố Hà Nội. Hiện đang thi hành án tại Trại giam Thanh Phong – Cục C10 Bộ Công an.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Trương Thị T trình bày:

Chị với anh Nguyễn Quang L kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn năm 2012 tại UBND xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên. Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại thôn Giẽ Thượng, xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên. Vợ chồng chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, bất đồng trong cách làm ăn kinh tế, hơn nữa vợ chồng chung sống mà không tin tưởng nhau, nghi ngờ nhau không chung thuỷ, anh L vô tâm, không quan tâm chăm sóc gia đình con cái. Mâu thuẫn trầm trọng vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau và anh L còn đánh chị. Đến tháng 4/2023 thì anh L bị bắt vì tội Tổ chức đánh bạc, hiện anh L đang chấp hành án tại trại giam Thanh Phong Cục C10 Bộ Công an.

Chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng đã hết nên chị làm đơn xin ly hôn anh Nguyễn Quang L.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Quang Duy M sinh ngày 15/5/2016 và Nguyễn Hà Bảo Nh sinh ngày 8/6/2013, ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng cả hai chung và không đề nghị anh Linh cấp dưỡng. Hiện chị đang kinh doanh tự do với mức thu nhập khoảng 15.000.000đồng/1 tháng.

Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung của vợ chồng: Không nợ nần ai nên không đề nghị Tòa xét.

Chị Tuyết nhất trí nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Theo các lời khai tại Tòa án, bị đơn anh Nguyễn Quang L trình bày:

Anh với chị Trương Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng kí kết hôn năm 2013 tại UBND xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống tại thôn Giẽ Thượng, xã Phú Yên. Vợ chồng chung sống không có sự tin tưởng nhau, luôn nghi ngờ nhau không chung thuỷ nhất là kể từ khi tháng 4/202 khi anh bị bắt giam thì tình cảm vợ chồng càng phai nhạt

Nay chị Tuyết làm đơn ly hôn, quan điểm của anh làm đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh chị có hai con chung là Nguyễn Quang Duy M sinh ngày 15/5/2016 và Nguyễn Hà Bảo Nh sinh ngày 8/6/2013, ly hôn quan điểm của anh là đề nghị chị T trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và đề nghị tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh.

Về tài sản chung của vợ chồng: không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung của vợ chồng: Không nợ nần ai nên không đề nghị Tòa xét.

Về án phí: Anh L đồng ý việc chị T tự nguyện nộp cả 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Do đang chấp hành án tại Trại giam Thanh Phong nên anh L đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải và anh xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc và xét xử của Toà án.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn như: thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay HĐXX và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.

Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T. Giao cả hai con chung là Nguyễn Quang Duy M sinh ngày 15/5/2016 và Nguyễn Hà Bảo Nh sinh ngày 8/6/2013 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Linh đến khi con chung trưởng thành hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật; tài sản chung, công nợ chung: không đề nghị giải quyết nên không xét; chị Tuyết phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. HĐXX nhận thấy:

Về thẩm quyền: Yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị T, HĐXX nhận thấy rằng:

Hôn nhân giữa chị Trương Thị T và anh Nguyễn Quang L là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng trong cuộc sống, do vợ chồng không có sự tôn trọng tin tưởng lẫn nhau. Mâu thuẫn trầm trọng hơn khi đến tháng 4 năm 2023 anh L bị bắt giam, vợ chồng cũng ly thân từ đó đến nay. Nay chị T làm đơn ly hôn, quan điểm của anh Linh là cũng nhất trí ly hôn.

Xét thấy, vợ chồng chị Tuyết, anh L đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, đó là vợ chồng không thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc hòa giải ly hôn giữa chị T, anh Linh không có kết quả do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

Về nuôi con chung sau ly hôn: Chị T và anh L có hai con chung là Nguyễn Quang Duy M sinh ngày 15/5/2016 và Nguyễn Hà Bảo Nh sinh ngày 8/6/2013. Xét điều kiện, hoàn cảnh, giới tính, đảm bảo tốt nhất cho việc nuôi con sau ly hôn, trên cơ sở ý kiến của các bên, giao cả hai con chung là Nh và Minh cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L đến khi con chung trưởng thành hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh L có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản: Các đương sự đều không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Chị Trương Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 143; 144; 147; 271; 273; 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 54, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị T. Chị Trương Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Quang L.

2. Về nuôi con sau ly hôn: Chị Tuyết và anh L có hai con chung là Nguyễn Quang Duy M sinh ngày 15/5/2016 và Nguyễn Hà Bảo Nh sinh ngày 8/6/2013. Giao cả hai con chung là cháu M và cháu Nhi cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L đến khi con chung trưởng thành hoặc có thay đổi theo quy định của pháp luât. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Chị T và anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

4. Về án phí: Chị Trương Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015812 ngày 17/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên.

5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền háng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

( đã ký)

Nguyễn Anh Tuấn

Cỡ chữ