- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự phúc thẩm - phạm tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ (điều 263 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáoNguyễn Hồng Vvà đại diện hợp pháp của bị hại Trần Ngọc H2, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2024/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số:128/2024/HS-PT Ngày: 06-8-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh
Các Thẩm phán: ÔngVõ Minh Triều Bà Trần Thị Chọn
- Thư ký phiên tòa: ÔngNguyễn Tấn Đạt -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giangtham gia phiên tòa:BàĐỗ Thị Tuyết Nhung-Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:78/2024/TLPT-HS ngày07tháng 6năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hồng V, do có kháng cáo của bị cáovà đại diện bị hại đốivới Bản án hình sự sơ thẩm số:52/2024/HS-ST ngày 24tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dânthành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:Nguyễn Hồng V,sinh ngày 06/02/1979 tại huyện T, tỉnh An Giang. Nơi thường trú: Khu phố E, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; nơi ở hiện tại: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Quản lý Chành xe;trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ớ, sinh năm1956 và bà Trần Thị Đ, sinh năm1954; có vợ là Võ Thị Thùy L, sinh năm 1980và03người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam: Không (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Vũ Diệu H - Văn phòng L1thuộc đoàn Luật sư tỉnh K (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hạicó kháng cáo: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1971 (có mặt). Địa chỉ: Số I khóm B, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Huỳnh Tấn V1do không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hồng Vlà quản lý chành xe Thành Hà Tiên theo Quyết định bổ nhiệm số 10/2019 ngày 01/10/2019 của Giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn T2. Huỳnh Tấn V1là lái xe chở hàng của chành xe T3tại địa bàn thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 19/5/2023, Huỳnh Tấn V1điều khiển xe ô tô vi phạm tốc độ nên bị Công an thành phố Pra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 5.000.000đ, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe hạng C số 930211000187 trong thời hạn 02 tháng (từ ngày 19/5/2023 đến ngày 19/7/2023). Huỳnh Tấn V1đã báo cho Nguyễn Hồng Vbiết việc mình bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe ô tô như trên.
Vào khoảng 19 giờ ngày 22/5/2023, mặc dù biết rõ Huỳnh Tấn V1đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, Nguyễn Hồng Vvẫn gọi điện thoại kêu Huỳnh Tấn V1vào sáng ngày 23/5/2023 đến cảng B (thuộc xã H, thành phố P) điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Hino BKS 65H-011.55 chạy đến khu vực sân bay vũ (thuộc khu phố E, phường D, thành phố P) giao cho anh DPhal chạy đi giao hàng.
Theo sự điều động của Nguyễn Hồng V, vào khoảng 01 giờ ngày 23/5/2024, Huỳnh Tấn V1xuống phà P từ thành phố H đến cảng Bvà đến bãi xe của chành xe lấy xe tải BKS 65H-011.55 chạy đến phường D. Khi Huỳnh Tấn V1chạy đến ngã ba giao nhau giữa đường Hvà đường băng sân bay cũ (thuộc phường D, thành phố P) thì rẽ vào đường băng sân bay cũ (thuộc khu phố E, phường D) chạy được khoảng 500m, lúc này khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, do không giữ khoảng cách an toàn và thiếu chú ý quan sát nên phần đầu xe ô tô do Tấn V1điều khiển đụng vào phía sau xe mô tô nhãn hiệu Dream 2 BKS 68F1-8890 do bà Trần Thị Ngọc H2điều khiển chạy cùng chiều phía trước, làm xe mô tô và bà H2ngã xuống đường. Sau khi nghe tiếng va chạm, Tấn V1giật mình phanh xe dừng lại, nhìn thấy bà H2nằm bất động dưới đường, Tấn V1điện thoại cho Hồng Vđến đưa bà H2đi cấp cứu nhưng đã tử vong, Tấn V1đến cơ quan Công an đầu thú.
Ngày 01/6/2023, Huỳnh Tấn V1bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Pkhởi tố, tạm giam để điều tra đến ngày 01/12/2023 thì được thay thế bằng hình thức cho gia đình bảo lĩnh. Đối với Nguyễn Hồng Vbị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Pkhởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra từ ngày 14/11/2023 cho đến nay.
* Về vật chứng:
- 01 xe ô tô tải BKS 65H-011.55, nhãn hiệu Hino, loại XZ4352L màu vàng, đã qua sử dụng.
- 01 xe mô tô BKS 68F1-8890, nhãn hiệu Boss, màu nâu, đã qua sử dụng.
* Tại bản kết luận giám định tử thi số 513/KL-KTHS ngày 22/6/2023 của Phòng K - Công an tỉnh Kkết luận:
1. Các kết quả chính:
- Sây sát da và bầm tụ máu vùng ngực phải kích thước 10cm x 06cm.
- Sây sát da và bầm tụ máu vùng ngực trái kích thước 21cm x 18cm.
- Sây sát da và bầm tụ máu vùng bụng kích thước 22cm x 3cm.
- Sây sát da và bầm tụ máu lưng đến mạn sườn phải kích thước 31cm x 24cm.
- Tụ máu dưới da cơ vùng ngực và bụng.
- Gãy cán xương ức, lòi phổi qua vết gãy cán xương ức.
- Tụ máu mặt dưới xương ức và mặt trước bao tim.
- Gãy phức tạp xương sườn 02 bên.
- Dập, rách và tụ 02 bên phổi. Khoang màng phổi phải có khoảng 500ml máu lao4ng và khoang màng phổi trái có khoảng 1000ml máu loãng.
- Rách phức tạp màng bao tim.
- Vỡ phức tạp và đứt lìa tim.
- Vỡ thùy trái gan.
2. Nguyên nhân tử vong: Sốc mất máu cấp do đa chấn thương.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền bồi thường là 220.000.000đ, có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
*Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2024/HS-ST, ngày24 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
- Tuyên bốbị cáo Nguyễn Hồng Vphạm tội “Điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
-Áp dụngđiểm a khoản 1 Điều 263; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng V01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn V101 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thồng đường bộ”; quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi tuyên bản án sơ thẩm, ngày 02/5/2024, bị cáo Nguyễn Hồng Vcó đơn kháng cáo với nội dungxin được hưởng án treo. Ngày 01/5/2024 ông Nguyễn Văn H1đại diện hợp pháp của bị hại có đơn kháng cáo nội dung xin cho bị cáo Hồng Vđược hưởng án treo.
Tại phiên tòaphúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Hồng V có ý kiến: Vẫn giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo. Sau khi xét xử sơ thẩm đã tự nguyện bồi thường chi phí sửa xe cho đại diện bị hại 9.540.000đ.
- Ông Nguyễn Văn H1, đại diện bị hại có ý kiến: Vẫn giữ nguyên kháng cáo xin cho bị cáo Hồng Vđược hưởng án treo và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Thừa nhận sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Hồng Vđã tự nguyện bồi thường chi phí sửa xe cho ông 9.540.000đ.
- Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang có ý kiến: Đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sựchấp nhận một phần kháng cáo của bị cáoHồng Vvà đại diện bị hại, sửa bản án sơ thẩm;Áp dụngđiểm a khoản 1 Điều 263; điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Vtừ 6 đến 9 tháng tù (giảm từ 3 đến 6 tháng so với mức án bản án sơ thẩm đã tuyên).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
Xét đơn kháng cáo của bị cáo và đại diện bị hại về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáolà đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo.
Về quyết định của bản án sơ thẩm:
Nguyễn Hồng Vlà quản lý chành xe Thành Hà Tiên theo Quyết định bổ nhiệm số 10/2019 ngày 01/10/2019 của Giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn T2.Vào khoảng 19 giờ ngày 22/5/2023, mặc dù biết rõ Huỳnh Tấn V1tài xế lái xe cho công ty trách nhiệm hữu hạn T2đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, Nguyễn Hồng Vvẫn gọi điện thoại điều độngHuỳnh Tấn V1điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Hino BKS 65H-011.55 chạy đến khu vực khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang giao cho Danh Pchạy đi giao hàng. Chấp hành sự điều động của Nguyễn Hồng V, khoảng 01 giờ ngày 23/5/2023 Huỳnh Tấn V1từ thành phố Hđi tàu ra bãi xe của chành xe Thành Hà Ttại thành phố Plấy xe tải BKS 65H-011.55 chạy đến phường D để giao cho Danh Pchạy đi giao hàng.Trên đường lái xe đi, do không giữ khoảng cách an toàn và thiếu chú ý quan sát nên phần đầu xe ô tô do Huỳnh Tấn V1điều khiển đụng vào phía sau xe mô tô nhãn hiệu Dream 2 BKS 68F1-8890 do bà Trần Thị Ngọc H2điều khiển chạy cùng chiều phía trước, làm xe mô tô và bà H2ngã xuống đườnglàm bà H2tử vong.
Do đó, cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáoNguyễn Hồng Vvề tội “Điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 263 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định.
Xétkháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc khoản 1 Điều 263 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 1 năm đến 3 năm. Với tính chất, mức độ, hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đồng thời khi xét xử sơ thẩm bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 1 năm tù mức thấp nhất của khung hình phạt tù được áp dụng là phù hợp, đúng quy định.
Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện bị hại 9.540.000đ chi phí sửa xe; cung cấp tài liệu thể hiện có người thân là người có công với cách mạng (ông Nguyễn Văn T1và bà Lê Thị Đ1là ông, bà nội của bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất); tại phiên tòa phúc thẩm đại diện hợp pháp của bị hại cũng có ý kiến xin giảm hình phạt cho bị cáo,nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo là thỏa đáng, do bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới và có đủ điều kiện để áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng (dưới 1 năm tù).
Về kháng cáo yêu cầu cho bị cáo được hưởng án treo,thấy rằngtình hình vi phạm pháp luật, tội phạm liên quan đến an toàn giao thông đang diễn ra phức tạp, gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội, gây bức xúc đối với mọi người nên những hành vi phạm tội như bị cáo cần phải xử lý nghiêm để răn đe, cảnh tỉnh chung. Việc cho bị cáo hưởng án treo sẽ không đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật về an toàn giao thông. Do đó, yêu cầu cho bị cáo được hưởng án treo không có cơ sở để chấp nhận.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo và đại diện của bị hại, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Việc sửa bản án sơ thẩm là do bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, chứ cấp sơ thẩm không sai, không có lỗi.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo và đại diện bị hạiđược chấp nhận một phần nên bị cáovà đại diện bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. [5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo;không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét đến. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáoNguyễn Hồng Vvà đại diện hợp pháp của bị hại Trần Ngọc H2, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2024/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 263; điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng V06 (sáu) tháng tù.Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
3. Về án phí, căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:Bị cáo và đại diện hợp pháp bị hạikhông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2024/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giangkhông có kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa - VKSND Cấp cao tại Tp. HCM (1); - TAND Cấp cao tại Tp . HCM(1); - VKSND tỉnh KG (1); - Sở Tư pháp tỉnh KG (1); - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1); - CQĐT TP Phú Quốc (1); - VKS TP Phú Quốc (1); - Tòa án TP Phú Quốc (1);Võ Văn Lịnh - THAHSCATP Phú Quốc (1); - Chi cục THADSTP Phú Quốc (1); - Bị cáo (1); - Bị hại (1); - Người bào chữa (1); - Tổ hành chính tư pháp (1); - Lưu hồ sơ (1); - Lưu tòa hình sự (5). |