- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05/02/2024 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trương Minh Ký.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân.
Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khôi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1018/2023/TLST– HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thùy Tr, sinh năm: 1996.
Thường trú, cư trú: X, Trương Hán Siêu, phường Đông Sơn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đức C, sinh năm: 1994.
Cư trú: X, chung cư Tecco Tower Tham Lương, hẻm 287, đường Phan Văn Hớn, tổ 63A, khu phố 5, phường Tân Thới Nhất, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37/2020, do Ủy ban nhân dân phường An Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng cấp ngày 02/11/2020. Quá trình sống chung, hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn xảy ra, đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Hiện vợ chồng đã ly thân, không còn chung sống với nhau từ tháng 8/2023 và cũng không còn quan tâm, gặp gỡ, chăm sóc, hàn gắn với nhau.
Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với bị đơn.
Nguyên đơn và bị đơn có 01 (một) con chung tên Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 01/9/2021. Nguyên đơn có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Nhật; yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng số tiền là 5.000.000 đồng, cho đến khi con chung thành niên.
Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn trình bày: Bị đơn không đồng ý ly hôn với nguyên đơn do còn thương yêu vợ, con, muốn hàn gắn, đoàn tụ để gia đình hạnh phúc, con có tình thương của cả cha mẹ. Quá trình chung sống, bị đơn không đánh đập, chửi bới nguyên đơn, không có các hành vi về bạo lực gia đình đối với nguyên đơn nên không có lỗi gì trong vụ việc ly hôn. Trong trường hợp Hội đồng xét xử cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn, về con chung nếu Hội đồng xét xử giao con cho nguyên đơn nuôi dưỡng, chăm sóc, bị đơn sẽ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng số tiền là 5.000.000 đồng cho đến khi con chung thành niên. Tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ
án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong
quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án:
+ Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Thuỳ Tr và ông Nguyễn Đức C.
+ Về con chung: Các đương sự có 01 (một) con chung tên Nguyễn Minh
Nhật, sinh ngày 01/9/2021. Giao cháu Nhật cho bà Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; Ông C cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng số tiền là 5.000.000 đồng, cho đến khi con chung thành niên.
+ Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
- Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Bị đơn đang cư trú tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, nên căn cứ theo điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ngày 09/11/2023 nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Căn cứ theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
2. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
2.1. Về hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37/2020, do Ủy ban nhân dân phường An Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng cấp ngày 02/11/2020, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên là hôn nhân hợp pháp. Qúa trình chung sống, các đương sự phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể tự giải quyết được dù đã áp dụng nhiều biện pháp nên nguyên đơn có yêu cầu xin ly hôn với bị đơn.
Tại Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Xét, mâu thuẫn giữa các đương sự là có thật, chủ yếu do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp nhưng vẫn không thể hòa hợp được; hiện nay cả hai cũng đã sống ly thân. Từ tháng 8/2023, nguyên đơn và cháu Nhật đã chuyển về Thanh Hoá sinh sống, còn bị đơn sinh sống tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan
tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và có nghĩa vụ sống chung với nhau. Tòa án đã tạo điều kiện để hai bên hòa giải, giải quyết mâu thuẫn gia đình nhưng không thành. Vì vậy, nhận thấy hôn nhân giữa các đương sự đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn.
2.2. Về con chung: Các đương sự có 01 (một) con chung tên Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 01/9/2021. Nguyên đơn có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nhật.
Tại Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
“Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi
bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho ai nuôi dưỡng cần phải xem xét
mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Cháu Nhật (chưa đủ 03 tuổi) hiện còn nhỏ, đang trực tiếp ở với nguyên đơn, được nguyên đơn chăm sóc, nuôi dưỡng, có nơi ở và học hành ổn định. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định nơi ăn ở, học hành, sự ổn định về tinh thần, sức khỏe của cháu Nhật, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu Nhật cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
2.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Căn cứ theo Biên bản hòa giải không thành ngày 09/11/2023, bị đơn tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Nhật số tiền hàng tháng là 5.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bị đơn.
2.4. Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng
4. Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 208; Điều 227; Điều 228 và Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các điều 9, 51, 53, 54, 56, 57, 58 và 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Luật phí, lệ phí năm 2015;
Căn cứ Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 và năm 2022.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Thuỳ Tr và ông Nguyễn Đức C.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 37/2020, do Ủy ban nhân dân phường An Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng cấp ngày 02/11/2020 không còn giá trị pháp lý.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao 01 (một) con chung là cháu Nguyễn Minh Nhật, sinh ngày 01/9/2021 cho bà Lê Thị Thuỳ Tra trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Đức C cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Minh Nhật mỗi tháng số tiền là 5.000.000 (năm triệu) đồng, cho đến khi cháu Nhật thành niên.
Việc giao nhận tiền cấp dưỡng nuôi con thực hiện vào ngày 05 (dương lịch) hàng tháng. Địa điểm giao nhận tiền cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận hoặc tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2.3. Vì lợi ích của con chung, các bên không được quyền ngăn cản việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, được quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con; các bên và cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 được quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con.
3. Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung: Không xem xét.
4. Về án phí:
4.1. Bà Lê Thị Thuỳ Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0030828 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trang đã nộp đủ án phí.
4.2. Ông Nguyễn Đức c phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và năm 2022 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND Quận 12; - Chi cục THADS Quận 12; - UBND phường An Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Minh Ký |