vanban.org

Bản án 128/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Nguyễn Văn TG phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Bị cáo Nguyễn Văn TG 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2023. Quyết định tạm giam bị cáo TG 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm việc thi hành án. Về trách nhiêm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Trường Giang phạm tôi Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình d…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Nguyễn Văn TG phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2023/HSST
Ngày: 29/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Phú – Nguyên hiệu trưởng Trường mầm non Liên cơ;

2. Bà Nguyễn Thị Huệ - Nguyên hiệu trưởng Trường tiểu học Quế Tân

Thư ký phiên tòa: Bà Hạp Thị Lan Phương - Thư ký TAND thị xã Quế Võ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Phụng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 130/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn TG, sinh năm 1998.

HKTT: Thôn Thành Tây, xã Văn Phú, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không. Bố đẻ: Nguyễn Văn B và mẹ đẻ: Bùi Thị L; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ và 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/03/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh – có mặt

- Bị hại: Cháu Hoàng Thuỳ D, sinh ngày 18/5/2008; HKTT: Nam Phong 1, Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng – vắng mặt;

- Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Hoàng Văn Th, sinh năm 1979 (bố đẻ cháu TD); HKTT: Nam Phong 1, Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng – vắng mặt;

-Người đại diện theo ủy quyền của ông Thần: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1946 (bà nội cháu TD); HKTT: Nam Phong 1, Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng – vắng mặt;

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đồng thời là người được uỷ quyền lại của người đại iện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Cúc, Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Ninh; Địa chỉ: Số 08, đường Phù Đổng Thiên Vương, phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh – có mặt;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị T, sinh năm 2002; HKTT: Thôn Thành Tây, xã Văn Phú, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 02/2022, Nguyễn Văn TG đang làm việc tại Hà Nội, còn cháu Hoàng Thuỳ D đang làm việc tại phường Phố Mới, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. TG và TD có kết bạn với nhau qua mạng xã hội Facebook. Sau một thời gian quen biết, TG và cháu TD nảy sinh quan hệ tình cảm yêu đương với nhau. Ngày 06/3/2022, TG đi xe ô tô khách từ Hà Nội về Bắc Ninh để gặp TD. Khoảng 22 giờ cùng ngày, TG về đến khu vực thị xã Quế Võ rồi vào thuê phòng 203 của nhà nghỉ Bên Hồ có địa chỉ tại Khu 3, phường Phố Mới, thị xã Quế Võ và nhắn tin bảo TD đến. Khoảng 30 phút sau, TD đi xe taxi đến nhà nghỉ để gặp TG. Tại đây, TG và TD cùng nằm trên giường nói chuyện với nhau một lúc, sau đó cả hai tự nguyện quan hệ tình dục với nhau. Sau khi quan hệ tình dục xong, TG và TD nằm trên giường ôm nhau ngủ. Khoảng 02 tiếng sau (lúc này khoảng 01 giờ ngày 07/3/2022), TG và TD tỉnh dậy và tiếp tục quan hệ tình dục với nhau lần thứ hai. Trong cả hai lần quan hệ tình dục, TG đều xuất tinh vào trong âm đạo của TD. Đến sáng ngày 07/3/2022, TG bắt xe về Hà Nội còn TD ở lại Quế Võ để tiếp tục làm việc.

Sau đó từ khoảng tháng 4 đến tháng 5/2022, TG và TD tiếp tục gặp nhau và nhiều lần quan hệ tình dục với nhau tại một số nhà nghỉ tại địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội (TG và TD không nhớ rõ tên và địa chỉ nhà nghỉ). Cũng trong thời gian này, TD có gặp gỡ và quen biết với một người đàn ông (TD chỉ biết tên là Nam). Khoảng tháng 4/2022, TD có lên thành phố Yên Bái gặp Nam. Tại đây, TD có quan hệ tình dục một lần với Nam. Đến khoảng cuối tháng 5/2022, TD về nhà và phát hiện có thai nên đã gọi điện thông báo cho TG về việc có thai. Lúc này, TG bảo TD đi phá thai, TD không đồng ý và đã làm đơn trình báo đến Công an thành phố Cao Bằng. Đến ngày 26/12/2022, cháu TD đã sinh một bé trai tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y đối với trẻ em bị hoặc nghi bị xâm hại tình dục số 123/KL-KTHS ngày 06/2/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Nguyễn Văn TG và cháu bé trai có mẫu gửi giám định không có quan hệ huyết thông cha đẻ - con đẻ với nhau”.

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại của cháu TD phát hiện tại mục tin nhắn Zalo có các tin nhắn giữa cháu TD với TG trao đổi có nội dung liên quan đến việc quan hệ tình dục tại nhà nghỉ Bên Hồ. Ngày 21/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ tạm giữ 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu hồng đã qua sử dụng của TG. Sau khi điều tra, xác minh xác định chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus màu hồng mà TG giao nộp không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 23/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã trả lại chiếc điện thoại trên cho TG.

Quá trình điều tra, chị Bùi Thị T, sinh năm 2002 (là vợ TG) đã tự nguyện bồi thường cho gia đình cháu Hoàng Thuỳ D số tiền 15.000.000 đồng. Gia đình cháu TD do bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1946 (là bà nội TD) đại diện nhận số tiền trên và không đề nghị bồi thường gì thêm.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 86/CT-VKSQV ngày 30/5/2023 của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố Nguyễn Văn TG về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo TG đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn TG phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn TG từ 36 tháng đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/3/2023;

Ngoài ra, đại diện VKS còn đề nghị về án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.

Người bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ cho người bị hại: Nhất trí với quan điểm của đại diện VKS. Người bị hại đã được bồi thường đầy đủ, không có yêu cầu gì thêm. Về mức hình phạt, bị hại và gia đình người bị hại đều đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức hình phạt phù để thể hiện tính nhân văn của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Võ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người bị hại trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Trong đêm ngày 06/3/2022 và rạng sáng 07/3/2022, bị cáo Nguyễn Văn TG đã 02 lần quan hệ tình dục với cháu Hoàng Thuỳ TD, sinh ngày 18/5/2008 tại phòng 203 của nhà nghỉ Bên Hồ có địa chỉ tại Khu 3, phường Phố Mới, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó, từ tháng 4 đến tháng 5/2022, TG và cháu TD nhiều lần quan hệ tình dục với nhau tại các nhà nghỉ trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Thời điểm TG có hành vi quan hệ tình dục với cháu TD thì cháu TD mới 13 tuổi 9 tháng 18 ngày. Do đó, hành vi của TG đã cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, Khoản 2, Điều 145 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của Nguyễn Văn TG là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại tình dục đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội. Nên cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly TG khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội TG đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, đã tác động đến gia đình tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng, và người bị hại cũng đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, người bị hại cũng có lỗi khi quan hệ tình dục với bị cáo mà giấu diếm không cho bị cáo biết được tuổi thật của mình. Như vậy, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử thấy xử phạt bị cáo mức hình phạt ở mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ để thể hiện tính nghiêm minh cũng như sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Do TG là đối tượng lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đến nay phía bị hại đã nhận số tiền 15.000.000 đồng do chị Bùi Thị T, sinh năm 2002 (là vợ TG) đã tự nguyện bồi thường cho gia đình cháu Hoàng Thuỳ D, người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, chị Tiền không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã bồi thường cho người bị hại nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo TG phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Liên quan đến vụ án này: Cháu TD khai nhận ngoài quan hệ tình dục với TG, tháng 4/2022 cháu TD còn có quan hệ tình dục với một người thanh niên tên Nam tại một nhà nghỉ ở thành phố Yên Bái. Tuy nhiên, đến nay TD không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người thanh niên đó ở đâu và không nhớ quan hệ tại địa điểm nào. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã gửi công văn thông báo cho Công an thành phố Yên Bái để điều tra, xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố Nguyễn Văn TG phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

2. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS; Điều 136, Điều 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn TG 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2023. Quyết định tạm giam bị cáo TG 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm việc thi hành án.

3. Về trách nhiêm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

5. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ