vanban.org

Bản án 128/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Tuyết Nga - Trương Thị Mỹ"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 128/2023/DS-ST

Ngày: 28/12/2023

HUYỆN Đ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vũ. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Đình Nhân. 2. Ông Lê Văn Hoàng. - Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hoàng – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Bảng – Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 148/2023/TLST – DS ngày 20 tháng 4 năm 2023 về vụ việc: “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 750/2023/QĐXXST - DS ngày 05 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số: 765/2023/QĐST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm: 1972. Địa chỉ: Đường N, tổ 30, TT.L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. 2. Bị đơn: Bà Trương Thị M, sinh năm: 1964. Địa chỉ: Số 30/4, thôn Q, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Bà N có mặt, bà M vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N trình bày: Ngày 12/4/2022, bà cho bà M mượn 100.000.000 đồng, giấy nợ do bà M viết và ký nhận, không thoả thuận lãi suất và thục tế bà không lấy lãi. Ngày 09/11/2022 bà M tiếp tục mượn bà 137.500.000 đồng, trước đó nợ bà 22.000.000 đồng nên bà trừ vào và chuyển khoản cho bà M 115.500.000 đồng, có bản sao kê của Ngân hàng Vietcombank. Tổng cộng bà M mượn của bà 237.500.000 đồng. Từ ngày 10/11/2022 đến ngày 15/11/2022 bà M trả được cho bà 30.000.000 đồng gốc. Nay bà yêu cầu bà M trả cho bà 207.500.000 đồng nợ gốc, không yêu cầu lãi

suất. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác. * Bị đơn bà Trương Thị M trình bày: Bà có vay của bà N 100.000.000 đồng, giấy nợ do bà viết và ký nhận, hẹn 01 tháng trả nhưng do khó khăn bà chưa trả được. Nay bà đề nghị cho bà trả dần thành nhiều lần. Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập tham gia phiên họp và hòa giải cho bà M, tiến hành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bà M, tiến hành tống đạt quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bà M nhưng bà M không có ý kiến. * Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không được vì bà M vắng mặt. * Tại phiên tòa hôm nay, bà N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình. * Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa là đúng pháp luật. Đề nghị căn cứ Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N. Buộc bị đơn bà Trương Thị M có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết N 207.500.000 đồng nợ gốc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N và bị đơn bà Trương Thị M. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tại phiên tòa hôm nay, bà Trương Thị M vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn bà Trương Thị M. [2] Xét về yêu cầu khởi kiện của bà N yêu cầu bà M trả cho bà N 207.500.000 đồng nợ gốc, thì thấy rằng: Tại giấy mượn tiền đề ngày 12/4/2022 (bút lục số 30) thể hiện bà N cho bà M mượn 100.000.000 đồng, bà M thừa nhận ngày 12/4/2022 mượn bà N 100.000.000 đồng và bản sao kê của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) – Chi nhánh Lâm Đồng – Phòng giao dịch Đ đề ngày 13/4/2023 (bút lục số 07) thể hiện ngày 09/11/2022 bà N chuyển cho bà M 115.500.000 đồng. Ngoài ra, bà M vay thêm bà N 22.000.000 đồng và từ ngày

10/11/2022 đến ngày 15/11/2022 bà M trả được cho bà 30.000.000 đồng. Nay bà N yêu cầu bà M trả cho bà N 207.500.000 đồng, không yêu cầu lãi suất là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, số tiền 100.000.000 đồng ngày 12/4/2022 bà M thừa nhận. Còn đối với khoản tiền chuyển khoản qua Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) – Chi nhánh Lâm Đồng – Phòng giao dịch Đ thì Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà M; Tiến hành tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập tham gia phiên họp và hòa giải cho bà M; Tiến hành tống đạt thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Tiến hành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bà M; Tiến hành tống đạt quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bà M nhưng bà M không có ý kiến. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc bà M trả cho bà N 207.500.000 đồng nợ gốc là có căn cứ, đúng pháp luật. [3] Về án phí: Do chấp nhận yều cầu khởi kiện của nguyên đơn bà N nên buộc bị đơn bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.375.000 đồng [207.500.000 đồng x 5%] theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên, QUYEÁT ÑÒNH: Caên cöù Điều 463 và Điều 466 của Boä luaät Dân sự. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 220, 227, 228, 264, 266 và Điều 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N về vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản đối với bị đơn bà Trương Thị M. Buộc bà Trương Thị M có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết N 207.500.000 đồng nợ gốc. Căn cứ Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành còn phải chịu số tiền lãi theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Về án phí: Buộc bà Trương Thị M phải chịu 10.375.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết N 5.187.500 đồng tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị Tuyết N đã tạm nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013330 ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu

cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bà Nguyễn Thị Tuyết N có quyền kháng cáo để Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng bà Trương Thị M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết để Tòa án tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ