- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn S và bị cáo Tạ Phú Vphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2022/HSST Ngày: 19/10/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Quân.
Các Hội thẩm: Ông Đào Văn Kiểm và ông Nguyễn Huy Trụ.
Thư ký Tòa án: Ông Lê Tuấn Linh - Thư Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, t nh hú Th .
Đ i di n Vi n ki m sát nh n d n thành phố Việt Trì, t nh hú Th tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ l số:122/2022/HSST ngày 05/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2022/QĐXXST-HS ngày 06/10/2022 đối với các bị cáo:
1, Họ và tên: Lưu Văn S; tên gọi hác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/9/1981 tại Việt Trì, Phú Thọ. Đăng hộ hẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 3, phố HH, phường TC, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố: Lưu Văn C, sinh năm 1940. Mẹ: Nguyễn Thị Q(đã chết); Anh chị em ruột: Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Lê Thị Minh H, sinh năm 1988 (Đã ly hôn); Con: Có 01 con, sinh năm 2014. Hiện đang ở cùng mẹ tại phường Minh Phương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Tiền án:
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2019/HSST ngày 12/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử Sáng 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 15/03/2019 và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Sáng ra trại ngày 22/02/2021.
-Tiền sự: Không;
- Nhân thân:
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 72 ngày 07/10/1998, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Sáng 18 tháng tù về tội “Cướp tài sản công dân” thời hạn tù tính từ ngày 21/5/1998. Do bản án sơ thẩm có háng cáo nên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm vụ án, tại Bản án hình sự phúc thẩm số 103/PT ngày 20/11/1998. Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Sáng 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Cướp tài sản công dân”. (Bản án Hình sự sơ thẩm số 93/2019/HSST ngày 12/7/2019 nhận định là nhân thân).
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2008/HS-ST ngày 25/03/2008, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Sáng 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sáng đã chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí hình sự sơ thẩm cùng trong năm 2010. (Bản án Hình sự sơ thẩm số 93/2019/HSST ngày 12/7/2019 nhận định là nhân thân).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/7/2022 đến ngày 09/7/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Phú Thọ.
( Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
2, Họ và tên: Tạ Phú V; tên gọi hác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14/5/1986 tại Việt Trì, Phú Thọ. Đăng hộ hẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu 14, xã TK, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Bố: Tạ Phú M(đã chết); Mẹ: Lương Thị Đ, sinh năm 1955. Bị cáo là con một trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 (Đã ly hôn). Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, hiện ở Khu 14, xã TK, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Con nhỏ sinh năm 2013, hiện đang ở cùng mẹ tại huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân: + Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2013/HSST ngày 28/3/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì xử Viên 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2012 và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Viên ra trại ngày 17/6/2015, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 01/04/2013.
- Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/7/2022 đến ngày 09/7/2022 chuyển tạm giam. Đến ngày 03/10/2022 được hủy bỏ biện pháp tạm giam và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi hỏi nơi cư trú”, hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã Tiên Kiên, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
(Bị cáo t i ngo i có mặt t i phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 9 giờ 15 phút ngày 06/7/2022, tại hu vực thuộc đội 4, xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Việt Trì làm nhiệm vụ, iểm tra, phát hiện hai người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật, hai người đàn ông tự hai họ tên Lưu Văn S, sinh ngày 04/9/1981, trú tại: Tổ 3, phố HH, phường TC, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và Tạ Phú V, sinh ngày 14/5/1986, trú tại: Khu 14, xã TK, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Quá trình iểm tra, Sáng tự giác giao nộp 01 (một) gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng có hoa văn, chữ in bên trong có chứa chất bột, cục màu trắng Sáng đang cầm trong lòng bàn tay phải cho cơ quan Công an. Sáng và Viên hai nhận đây là gói ma tu Heroin của Sáng và Viên, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Sáng và Viên, thu giữ và niêm phong gói ma tu có đặc điểm như trên theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra còn thu giữ đồ vật, tài sản của Sáng và Viên gồm: Thu giữ của Sáng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đã cũ có số IMEI 866186038039350 èm 01 sim trong máy số 0787482392; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 6ml; 01 ống nước cất chưa sử dụng và tiền Việt Nam 200.000 đồng. Thu giữ của Viên: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh trắng đã cũ có số IMEI 865534041046535 èm 02 sim trong máy số 0912135300 và số 0976898563; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 6ml; 01 ống nước cất chưa sử dụng.
Ngày 06/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chất bột, cục màu trắng đã thu giữ của Lưu Văn S và Tạ Phú V. Tại bản Kết luận giám định số 908/KLGĐ ngày 08/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ ết luận:
“Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong gói giấy mặt ngoài và mặt trong màu trắng, có hoa văn, chữ in trong bì niêm phong thu giữ của Lưu Văn S và T hú Vgửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,179 gam, lo i Heroine”.
* Heroine là chất ma túy nằm trong danh mục I, số thứ tự: 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-C ngày 15/5/2018 của Chính hủ”.
Hoàn trả 0,158 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau hi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ hi bắt quả tang, Sáng và Viên hai nhận:
Khoảng 08 giờ ngày 06/7/2022 hi Viên đang ngồi uống nước ở quán nước ven đường gần hách sạn Mường Thanh thuộc phường Gia Cẩm, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thì gặp Lưu Văn S là bạn quen biết xã hội, do biết Sáng có sử dụng trái phép chất ma tu nên Viên đã rủ Sáng góp tiền cùng đi mua ma tu Heroin để cùng sử dụng. Sáng đồng . Viên và Sáng thỏa thuận góp được tổng số tiền 1.000.000đ (Sáng và Viên mỗi người góp 500.000đ). Sáng là người cầm tiền. Sau đó hai người đi nhờ xe máy của người lạ qua đường hông quen biết lên hu vực xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì tìm mua ma tu , hi đến hu vực gần cây xăng trên đường vào hu Công nghiệp Thuỵ Vân, Sáng và Viên xuống xe, Sáng bảo Viên đứng chờ ở đó còn Sáng cầm tiền, một mình đi bộ vào hu vực nghĩa trang hu công nghiệp Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì. Tại đây, Sáng gặp, hỏi và mua được của một người đàn ông tự giới thiệu tên Tuấn hoảng 40 tuổi (Sáng hông biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của Tuấn) 01 gói ma tu Heroin được gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng có hoa văn, chữ in bên trong có chứa chất bột, cục màu trắng là ma tu Heroine với giá 1.000.000 đồng. Sau hi bán ma tu cho Sáng, người đàn ông tên Tuấn đi đâu, làm gì Sáng hông biết, còn Sáng cầm gói ma tu trong lòng bàn tay phải và đi bộ về chỗ Viên đứng đợi. Khi gặp Viên, Sáng nói với Viên đã mua được ma tu và cho Viên xem gói ma tu . Sau đó Sáng cầm gói ma túy cùng Viên đi tìm nơi sử dụng, hi cả hai đi đến bụi cây ven đường thuộc đội 4, xã Thụy Vân, thành phố Việt Trì để cùng nhau sử dụng ma tu nhưng chưa ịp sử dụng thì bị tổ công tác - Công an thành phố Việt Trì phát hiện, iểm tra và bắt giữ như đã nêu trên.
Ngoài ra, Lưu Văn S và Tạ Phú Vcòn hai nhận trước đó vào hoảng 10 giờ ngày 05/7/2022 Sáng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức tiêm trực tiếp vào cơ thể. Nguồn gốc ma túy: Khoảng 8 giờ ngày 05/7/2022 Sáng mua của một người nghiện ma túy hông quen biết tại khu vực chợ đêm thuộc phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì được 01 gói ma tu Heroin với giá 200.000 đồng và đã sử dụng hết. Và vào hoảng vào12 giờ ngày 05/7/2022 Viên có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức tiêm trực tiếp vào cơ thể. Nguồn gốc ma túy: Viên hai nhận mua của một người nghiện ma túy hông quen biết tại khu vực gần chợ thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc vào khoảng 11 giờ ngày 05/7/2022 được 01 gói ma túy Heroin với giá 300.000 đồng và đã sử dụng hết.
Ngày 06/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành iểm tra kết quả xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với Lưu Văn S và Tạ Phú V, kết quả: Cả Sáng và Viên đều dương tính với chất ma túy.
Đối với người đàn ông tên Tuấn bán ma túy cho Sáng vào ngày 06/7/2022 và 02 người đàn ông bán ma tu cho Sáng và Viên ngày 05/7/2022 Sáng hông biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu; ngoài lời hai nhận của Sáng và Viên thì hông có tài liệu, chứng cứ nào hác để chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Việt Trì hông có căn cứ để làm rõ và xử l đối với những người này.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 05/7/2022 của Sáng và Viên, quá trình điều tra hông thu được ma tu do Sáng và Viên đã sử dụng hết, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Việt Trì đã chuyển Công an thành phố Việt Trì ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Sáng và Viên, hình thức phạt cảnh cáo là phù hợp.
Về nguyên nhân, điều iện, động cơ, mục đích dẫn đến hành vi phạm tội: Do các bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma túy nên tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân.
Về vật chứng, tài sản thu giữ gồm:
- 01 bì niêm phong số 908/KLGĐ ngày 08/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả sau giám định bên trong có chứa 0,158 gam chất bột, cục màu trắng là ma túy Heroine của Lưu Văn S và Tạ Phú V;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đã cũ có số IMEI 866186038039350 èm 01 sim trong máy số 0787482392; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 6ml; 01 ống nước cất chưa sử dụng của Lưu Văn S;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh trắng đã cũ có số IMEI 865534041046535 èm 02 sim trong máy số 0912135300 và số 0976898563; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 6ml; 01 ống nước cất chưa sử dụng của Tạ Phú V.
Các vật chứng và tài sản trên hiện đều đang tạm giữ, bảo quản tại ho vật chứng của Công an thành phố Việt Trì.
- Số tiền Việt Nam: 200.000 đồng (Thu giữ của Sáng) là tiền do Sáng lao động mà có. Hiện số tiền trên đang được tạm giữ vào tài hoản số 3949.0.9044150.00000 của Công an thành phố Việt Trì tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Phú Thọ.
Quá trình điều tra, Sáng và Viên đã thành hẩn hai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ hác có trong hồ sơ vụ án.
Về điều iện inh tế của các bị can, Cơ quan điều tra xác định: Ngoài đồ dùng sinh hoạt cá nhân và tài sản là những chiếc điện thoại di động, số tiền 200.000 đồng bị thu giữ thì bị cáo Lưu Văn S và Tạ Phú V hông có tài sản riêng gì có giá trị.
Tại bản cáo trạng số:124/CT-VKSTPVT ngày 04 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã quyết định truy tố bị cáo Lưu Văn S và Tạ Phú Vvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa iểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX như sau:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn S và bị cáo Tạ Phú Vphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Lưu Văn S: Xử phạt bị cáo Sáng 30 tháng đến 33 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 06/7/2022.
Phạt bổ sung: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đã cũ có số IMEI 866186038039350 và số tiền 200.000 đồng là tiền của Sáng lao động mà có.
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Tạ Phú V: Xử phạt bị cáo Tạ Phú V24 tháng đến 27 tháng tù, được khấu trừ thời gian bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày (06/7/2022 đến ngày 03/10/2022.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Phạt bổ sung: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh trắng đã cũ có số IMEI 865534041046535.
2. Về xử l vật chứng: Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy - 01 bì niêm phong số 908/KLGĐ ngày 08/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả sau giám định bên trong có chứa 0,158 gam chất bột, cục màu trắng là ma túy Heroine của Lưu Văn S và Tạ Phú V; 01 sim trong máy số 0787482392; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 6ml; 01 ống nước cất chưa sử dụng của Lưu Văn S; 02 sim trong máy số 0912135300 và số 0976898563; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 6ml; 01 ống nước cất chưa sử dụng của Tạ Phú V.
3. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, hai bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, hông tham gia tranh luận đối với bản luận tội và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát; Hai bị cáo nói nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên, Viện iểm sát nhân dân thành phố Việt Trì trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo hông có iến gì hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về những căn cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên tòa lời khai của hai bị cáo phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ hác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 9 giờ 15 phút ngày 06/7/2022 tại khu vực thuộc đội 4, xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Lưu Văn S và Tạ Phú Vcó hành vi tàng trữ trái phép hối lượng 0,179 gam ma túy Heroine nhằm mục đích để cùng sử dụng thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Do vậy, Hành vi của Lưu Văn S và Tạ Phú Vlà hành vi nguy hiểm cho xã hội, hông những đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản l các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an xã hội.
Hành vi đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tu ", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c hoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuy n, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đ y, thì bị ph t tù từ 01 đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
. Về tính chất, mức độ nghiêm tr ng của hành vi ph m tội: Hai bị cáo phạm tội với lỗi cố , đây là vụ án đồng phạm giản đơn, 02 bị cáo đều tham gia vào việc mua bán ma túy hi cùng góp tiền, Sáng giữ vai trò tích cực hơn hi là người trực tiếp cầm tiền và đi mua ma túy để hai người cùng sử dụng. Hành vi của hai bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản l của nhà nước về ma túy, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương thuộc trường hợp nghiêm trọng, nên cần phải cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng riêng và phòng ngừa chung.
. Về nh n th n và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lưu Văn S phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h, hoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo Tạ Phú V hông phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, hoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo Lưu Văn S có bố đẻ (là ông Lưu Văn C) có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương háng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại hoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Nên hi lượng hình cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
. Về hình ph t bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự còn quy định: “Người ph m tội còn có th bị ph t tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng, cấm đảm nhi m chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công vi c nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Quá trình điều tra xác minh, bị cáo Sáng và Viên ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yêu cá nhân, hông có tài sản gì hác có giá trị, ngoài 02 điện thoại di động bị thu giữ của 02 bị cáo và 200.000 đồng của bị cáo Sáng. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là tịch thu, nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Sáng 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đã cũ và tiền Việt Nam 200.000 đồng; của Viên 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh trắng đã cũ.
. Về xử lý vật chứng: Xét thấy các vật chứng được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì gồm 01 bì niêm phong số 908/KLGĐ ngày 08/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả sau giám định bên trong có chứa 0,158 gam chất bột, cục màu trắng là ma túy Heroine của Lưu Văn S và Tạ Phú V; 01 sim trong máy số 0787482392; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 6ml; 01 ống nước cất chưa sử dụng của Lưu Văn S; 02 sim trong máy số 0912135300 và số 0976898563; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 6ml; 01 ống nước cất chưa sử dụng của Tạ Phú V, nên tịch thu tiêu hủy.
Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên Tuấn bán ma túy cho Sáng vào ngày 06/7/2022 và 02 người đàn ông bán ma tu cho Sáng và Viên ngày 05/7/2022 Sáng hông biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu; ngoài lời hai nhận của Sáng và Viên thì hông có tài liệu, chứng cứ nào hác để chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Việt Trì hông có căn cứ để làm rõ và xử l đối với những người này là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 05/7/2022 của Sáng và Viên, quá trình điều tra hông thu được ma tu do Sáng và Viên đã sử dụng hết, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Việt Trì đã chuyển Công an thành phố Việt Trì ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Sáng và Viên, hình thức phạt cảnh cáo là phù hợp.
. Về án phí: Hai bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tại phiên tòa là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với Lưu Văn S.
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với Tạ Phú V.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn S và bị cáo Tạ Phú Vphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt bị cáo Lưu Văn S 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ bắt tạm giữ là ngày 06 tháng 7 năm 2022.
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đã cũ có số IMEI 866186038039350 và số tiền 200.000 đồng là tài sản của bị cáo Lưu Văn S. (Theo biên lai thu tiền số 0007301, ngày 06/10/2022 của Chi cụ Thi hành án thành phố Việt Trì)
Xử phạt bị cáo Tạ Phú V24 tháng tù, được khấu trừ thời gian bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2022 đến ngày 03/10/2022. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh trắng đã cũ có số IMEI 865534041046535 là tài sản của bị cáo Tạ Phú V.
2. Về xử l vật chứng: Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu để tiêu hủy - 01 bì niêm phong số 908/KLGĐ ngày 08/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả sau giám định bên trong có chứa 0,158 gam chất bột, cục màu trắng là ma túy Heroine của Lưu Văn S và Tạ Phú V; 01 sim trong máy số 0787482392; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 6ml; 01 ống nước cất chưa sử dụng của Lưu Văn S; 02 sim trong máy số 0912135300 và số 0976898563; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 6ml; 01 ống nước cất chưa sử dụng của Tạ Phú V.
(Theo Biên bản giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Việt Trì đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì ngày 06/10/2022).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lưu Văn S và bị cáo Tạ Phú Vmỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án hai bị cáo được quyền háng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND TP Việt Trì; - Bị cáo; - Cơ quan CSĐT CATP Việt Trì; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Trại tạm giam CA tỉnh Phú Thọ; - Chi cục THA dân sự Tp Việt Trì; - UBND xã Tiên Kiên, huyện Lâm Thao; - Lưu HS+VP. yêu cầu xét xử phúc thẩm. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Thị Ánh Nguyệt Lê Anh Dũng xử nghe và tên./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ h tên) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Quân Trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án hai bị cáo được quyền háng cáo để THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Quân Nghị án ết thúc vào hồi giờ phút , ngày tháng năm 2022; Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét ThÈm ph¸n – chñ täa phiªn tßa Đặng Xuân Quân |