- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lâm Trọng- tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N T TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2022/HSST. Ngày: 10 - 8 - 2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ H1 CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N T, TỈNH ĐỒNG NAI
- T2 phần H1 đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Mai
Các H1 thẩm nhân dân: 1. Ông Hoài Đức Huệ
2. Bà Trần Thanh Phương
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Đình Linh Chi - Thư ký Toà án nhân dân huyện N T, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N T, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:Ông Trần Quang Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2022/QĐXXST-HS ngày 25/7/2022 đối với bị cáo:
Lâm T, sinh năm 1991 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp Bến D, xã Tam G, huyện Năm C, tỉnh Cà Mau, Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm H và bà Nguyễn Thị T; bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có 03 anh em, bị cáo có vợ là Nguyễn Thị C, sinh năm 1993 và có 02 con lớn nhất sinh năm 2013 và nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 30 tháng 3 năm 2022 và chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Nhơn T.
Bị cáo có mặt.
- Người làm chứng:
1/Ông Thái Văn N, sinh năm 1955.
Địa chỉ: Ấp Xóm H, xã Phú H1, huyện Nhơn T, Đồng Nai.
(Ông N vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lâm T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, vào lúc 11 giờ ngày 30/3/2022, T đến khu vực huyện Long T2, tỉnh Đồng Nai mua 5 gói ma túy với giá 1.500.000 đồng của Trung (chưa rõ nhân thân lai lich) mang về sử dụng. Đến 19 giờ cùng ngày, T đang đi bộ trên đường Đào Thị Phấn thuộc ấp Đất Mới, xã Phú H1, huyện Nhơn T, Đồng Nai thì bị Công an huyện Nhơn T phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Tại kết luận giám định số: 640/KLGĐ-PC09 ngày 06/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: 05 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,9803 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có kHi lượng 1,9496 gam.
Về vật chứng gồm:
+05 gói nylon hàn kín chúa tinh thể rắn màu trắng.
+01 bóp da mà đen để đựng ma túy.
+01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen là tài sản của T.
Tại bản Cáo trạng số 106/CT-VKSLT ngày 27/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn T đã truy tố bị cáo Lâm T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn T tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như tại bản Cáo trạng.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tình tiết tăng nặng: Không có; Tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đề nghị H1 đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lâm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Về biện pháp tư pháp : Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị tòa tuyên:
+Tịch thu tiêu hủy ma túy hiệu Methamphetamine có khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,9496 gam của Lâm T được niêm phong trong 1 phong bì ký hiệu số 640/KL-KTHS có chữ ký ghi họ tên Phan Đình Hòa, Đinh Văn Hải và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
+Tịch thu tiêu hủy 01 bóp da màu đen của Lâm T sử dụng vào việc phạm tội.
+Trả 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen của Lâm T do không liên quan đến vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA H1 ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng ông Thái Văn N vắng mặt. Xét ông N vắng mặt nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và sự vắng mặt của ông N không gây trở ngại cho việc xét xử và đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị tiếp tục xét xử nên Hội đồng xét xử Căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt ông N.
[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lâm T đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được tại hồ sơ vụ án và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, nên có cơ sở xác định: Lâm T là người nghiện ma túy.Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 30 tháng 3 năm 2022 Lâm T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 1,9803 gam, loại Methamphetamine thì bị bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu Thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015) như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã Hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma tuý và trật tự an toàn xã Hội tại địa phương, tiếp tay cho các đối tượng khác thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Bản thân bị cáo nhận thức rất rõ về tác hại của ma túy, về việc Nhà nước nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố tình thực hiện là thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã Hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã Thành khẩn khai báo, ăn năn Hối cải, chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
+Tịch thu tiêu hủy ma túy hiệu Methamphetamine có kHối lượng còn lại sau khi giám định là 1,9496 gam của Lâm T được niêm phong trong 1 phong bì ký hiệu số 640/KL-KTHS có chữ ký ghi họ tên Phan Đình Hòa, Đinh Văn Hải và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
+Tịch thu tiêu hủy 01 bóp da màu đen của Lâm T sử dụng vào việc phạm tội.
+Trả 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen của Lâm T do không liên quan đến vụ án.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lâm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lâm T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 3 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
+Tịch thu tiêu hủy ma túy hiệu Methamphetamine có khối lượng còn lại sau khi giám định là 1,9496 gam của Lâm T được niêm phong trong 1 phong bì ký hiệu số 640/KL-KTHS có chữ ký ghi họ tên Phan Đình Hòa, Đinh Văn Hải và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
+Tịch thu tiêu hủy 01 bóp da màu đen của Lâm T sử dụng vào việc phạm tội.
+Trả 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen của Lâm T do không liên quan đến vụ án.
Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn T đang tạm giữ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04 tháng 7 năm 2022.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lâm T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lâm T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện N T; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Công an huyện N T; - Chi cục THADS huyện N T; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu | TM. H1 ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Mai |