- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Lù Đức N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lù Đức N 1 (một) năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 06/10/2022.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2022/HS - ST Ngày: 14/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Chức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Đô
Ông Trương Đức Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 14/12/2022, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 126/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2022/QĐXXST-HS ngày 01/12/2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lù Đức N, sinh năm 1995;
Tên gọi khác: Không.
Nơi cư trú: Xóm 1, xã MG, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.
Nghề nghiệp: Công nhân
Trình độ văn hóa: 10/12
Quốc tịch: Việt N;
Dân tộc: Thái;
Tôn giáo: Không
Con ông: Lù Văn T1 – đã chết;
Con bà: Phạm Thị H1 – đã chết;
Vợ, con: Chưa có;
Anh, chị em: Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ hai;
Tiền án, tiền sự: Không có;
Nhân thân: Tại Bản án số 51/2018/HSST ngày 10/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/5/2020. Chấp hành xong án phí ngày 12/12/2018.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang – có mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH đầu tư xây dựng VINCONS do ông Trần Văn V1 giám đốc đại diện theo pháp luật – vắng mặt
Địa chỉ: thôn TX, xã YT, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Đào Bá T2, sinh năm 1982 – vắng mặt
Địa chỉ: thôn NL, xã CM, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1974 – vắng mặt
Địa chỉ: thôn NT, xã HL, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 10 phút ngày 05/10/2022 tại Công trường do Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư xây dựng VINCONS (gọi tắt là Công ty VINCONS) thi công tại khu công nghiệp Hoà Phú thuộc thôn MH, xã MĐ, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang, Tổ tuần tra Công an xã MĐ phát hiện và bắt quả tang Lù Đức N, sinh năm 1995 ở xóm 1, xã MG, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La đang có hành vi trộm cắp tài sản là 01 bóng đèn Led của Công ty VINCONS. Thu giữ của N: 01 bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 01 gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma tuý và 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ chứa 01 viên nén màu xanh nghi là ma tuý (tất cả được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu “QT”); 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu xanh (được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu “ĐT”; 01 bóng đèn Led loại 10 bóng và số tiền 30.000 đồng.
Công an xã MĐ đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với N về hành vi trộm cắp tài sản và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cùng ngày, Công an xã MĐ đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hoà để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 06/10/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của N, kết quả: Không thu giữ gì.
Ngày 06/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hoà đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 219 để giám định đối với số vật chứng nghi là ma tuý thu giữ của N.
Tại Kết luận giám định số 1823/KL-KTHS ngày 11/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: “Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu ”QT" đã được niêm phong gửi giám định:
- 01 (một) viên nén màu xanh đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có khối lượng 0,411 gam, loại MDMA.
- Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc là ma túy, có khối lượng 0,298 gam, loại Heroine” (Bút lục 18-19).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hoà đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 58 ngày 19/10/2022 để định giá đối với chiếc bóng đèn N trộm cắp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 53 ngày 02/11/2022 của Hộ đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hiệp Hoà kết luận: “Tại thời điểm ngày 05/10/2022 chiếc đèn Led (loại 10 bóng), loại đèn hắt 500W có giá 48.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, N khai nhận: N là đối tượng nghiện ma tuý. Khoảng 17 giờ ngày 05/10/2022, N điều khiển xe mô tô một mình đi đến khu vực ngã tư Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để mua ma tuý sử dụng. Tại đây, N gặp một người xe ôm (N không rõ tên tuổi, địa chỉ) và nhờ người này mua giúp 200.000 đồng ma tuý Heroine thì người này đồng ý. Người này cầm tiền của N rồi đi khoảng 10 phút thì quay lại và đưa cho N một gói giấy bạc bên trong có chứa ma tuý Heroine. N nhận ma tuý rồi giấu vào trong bao thuốc lá Thăng Long và đút bao thuốc vào túi quần bên phải N đang mặc rồi đi đến quán sắt vụn của anh Đào Bá T2, sinh năm 1982 ở thôn NL, xã CM, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô đến nhà của một người tên Dần (N không rõ mặt và tên tuổi của người này) ở thôn NT, xã HL, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang để mua ma tuý kẹo. Thông qua một lỗ nhỏ trên tường, N đưa vào trong 400.000 đồng thì được người phía trong đưa cho 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ bên trong chứa 01 viên ma tuý dạng kẹo màu xanh. N giấu túi nilon chứa viên ma tuý vào trong bao thuốc lá Thăng Long và cất vào túi quần phải đang mặc. Sau đó, N về nhà Tâm ăn cơm. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Tâm rủ N vào khu công nghiệp Hoà Phú để trộm cắp tài sản thì N đồng ý. Tâm điều khiển xe mô tô của Tâm chở N vào Công trình đang thi công của Công ty TNHH Đầu tư xây dựng VINCONS thì thấy 01 chiếc đèn Led đang buộc ở cột giáo nên N trèo lên giáo và tháo chiếc đèn Led, còn T2 thì đứng gần đó cảnh giới. Khi N đang thực hiện hành vi trộm cắp chiếc đèn Led thì bị bắt quả tang còn T2 thì chạy thoát.
Đối với hành vi trộm cắp 01 chiếc đèn Led trị giá 48.000 đồng của N: N chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản. Do vậy, Công an huyện Hiệp Hoà đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng đối với N về hành vi Trộm cắp tài sản.
Đối với người đã mua ma tuý cho N ở ngã tư Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên do N không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh.
Đối với người tên Dần ở thôn NT, xã HL, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang, theo N khai là người bán ma tuý dạng kẹo cho N qua lỗ ở tường, N không nhìn rõ mặt người này, không nhớ vị trí nơi mua ma tuý. Căn cứ lời khai N xác định là anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1974 ở thôn NT, xã HL, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang nhưng anh D không thừa nhận việc bán ma tuý cho N nên không có căn cứ để xử lý đối với anh D.
Đối với anh Đào Bá T2 không thừa nhận việc cùng N đi trộm cắp tài sản như N đã khai. Cơ quan điều tra đã cho N và anh Tâm đối chất nhưng cả hai vẫn giữ nguyên lời khai nên không có căn cứ để xử lý đối với anh Tâm.
Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô N sử dụng để đi mua ma tuý, N khai mượn của một người bạn không rõ tên, tuổi địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và số tiền 30.000 đồng là của N, không liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với 01 chiếc đèn Led, loại 10 bóng là của Công ty TNHH Đầu tư xây dựng VINCONS, ngày 05/11/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc đèn Led cho anh Trình Văn Vinh, sinh năm 1984 ở tổ 7, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh là giám đốc công ty
Với nội dụng như trên, tại bản cáo trạng số 127/CT-VKS-HH ngày 21/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo Lù Đức N về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Bị cáo khai mua ma túy với mục đích vừa để sử dụng. Khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Hình phạt chính: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt Lù Đức N từ 18 tháng đến 20 tháng tù giam về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/10/2022.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Trả lại bị cáo 30.000 đồng và 01 điện thoại Nokia màu xanh, viền đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH: Bị cáo N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về sự vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đã được tòa án triệu tập hợp lệ. Những người này đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292; 293 Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người này.
Về tội danh:
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên xác định được: Hồi 23 giờ 10 phút ngày 05/10/2022, tại thôn MH, xã MĐ, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang, Lù Đức N, sinh năm 1995 ở xóm 1, xã MG, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,411 gam ma túy MDMA và 0,298 gam ma tuý Heroine thì bị Công an xã MĐ, huyện Hiệp Hòa bắt quả tang. N khai tàng trữ số ma túy trên để sử dụng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lù Đức N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ của hành vi:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ cho đời sống cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, là nguy cơ lây truyền các căn bệnh xã hội như HIV, AIDS… Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã bị xét xử một lần về hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm gương, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân tốt nên cần phải xử nghiêm bị cáo để đảm bảo tính ren đe, phòng ngừa chung.
Xét về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đối với hành vi trộm cắp của Lù Đức N do tài sản trộm cắp dưới 2 triệu đồng nên cơ quan cảnh sát điều tra huyện hiệp hòa không xử lý hình sự đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật. Đối với người bán ma túy cho bị cáo N mà N khai là anh D nhưng anh D không thừa nhận. Bản thân N khi mua cũng không biết ai giao ma túy cho mình, không biết địa điểm cụ thể khi mua ma túy. Do vậy, không có căn cứ để xử lý anh D.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với số ma túy còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại và số tiền 300.000 đồng của bị cáo là tài sản có giá trị cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lù Đức N 1 (một) năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 06/10/2022.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT”.
- Trả lại bị cáo Lù Đức N 30.000 đồng.
- Trả lại bị cáo Lù Đức N 01 điện thoại Nokia màu xanh, viền đen được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “ĐT”.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Lù Đức N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt án hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hiệp Hòa; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Cơ quan CSĐT – CA huyện Hiệp Hòa; - Bị cáo; - Đương sự; - Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa; - Lưu HSVA – VPTA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đặng Văn Chức |