vanban.org

Bản án 128/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Võ Ngọc Đ.

Về con chung: Giao ngư i con đầu Võ Phương L, sinh ngày 25/10/2006 cho anh Võ Ngọc Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao ngư i con thứ hai Võ Phương U, sinh ngày 18/11/2015 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Việc giao con chung cho các… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn giữa chị Nguyễn Thị V và anh Võ Ngọc Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Võ Ngọc Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2022/HNGĐ-ST
Ngày 15/9/2022
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
chia tài sản khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Văn Đông

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trương Thị Bích Hiệp.

2. Bà Hoàng Thị Tuấn Anh.

- Thư ký phiên toà: Bà Kim Thị Mai - Thư T a án nhân dân huyện Qu Hợp, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Hào – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở T a án nhân dân huyện Qu Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công hai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ l số: 91/2021/TLST – HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản hi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1985. Trú tại: Xóm MX, xã MH, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Võ Ngọc Đ, sinh năm 1982. Trú tại: Xóm MX, xã MH, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn hởi iện ngày 04/11/2021 và qua l i hai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên t a, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị V trình bày:

Chị Nguyễn Thị V và anh Võ Ngọc Đ đăng

ết hôn với nhau vào ngày 14/3/2007 tại Ủy ban nhân dân xã MH, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một th i gian thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách hông h a hợp, thư ng xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng hông có sự quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống để xây dựng hạnh phúc lâu dài, sau th i gian sống chung trong nhà nhưng hông có tình cảm và sự

1

quan tâm, chị V thấy cuộc sống không có hạnh phúc, tương lai lâu dài nên chị V giữ nguyên yêu cầu đề nghị giải quyết ly hôn đối với anh Võ Ngọc Đ.

Về con chung: Chị V và anh Đ có 02 ngư i con chung gồm Võ Phương L, sinh ngày 25/10/2006 và Võ Phương U, sinh ngày 18/11/2015. Ly hôn chị V đề nghị giao ngư i con đầu Võ Phương L cho anh Võ Ngọc Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao ngư i con thứ hai Võ Phương U cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên hông có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị V hông yêu cầu T a án giải quyết đối với nợ chung của vợ chồng. Về tài sản chung, chị V yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng gồm quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) mang tên anh Võ Ngọc Đ và chị Nguyễn Thị V và 01 căn nhà xây cấp 4, cụ thể:

Thửa đất thứ nhất số 17071.03.15A3, t bản đồ số 03, diện tích là 52,8m2 (đất ở tại nông thôn) tại xóm MX, xã MH, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Được UBND huyện Q, tỉnh Nghệ An cấp GCNQSDĐ số AD 298757 ngày 16/10/2007 cho ngư i sử dụng đất là hộ ông Võ Ngọc Đ và vợ Nguyễn Thị V, trên thửa đất có xây dựng 01 căn nhà xây cấp 4 lợp tôn xốp.

Thửa đất thứ hai số 15A2, t bản đồ số 03, diện tích là 76,0m2 (đất ở tại nông thôn) tại xóm MX, xã MH, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Được UBND huyện Q, tỉnh Nghệ An cấp GCNQSDĐ số BK 417328 ngày 23/01/2013 cho ngư i sử dụng đất là ông Võ Ngọc Đ và vợ Nguyễn Thị V.

Đối với những tài sản hác gắn liền với đất như cây trồng, chuồng trại chăn nuôi, giếng nước và tài sản trong nhà chị Nguyễn Thị V hông yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết chia.

- Ý iến của bị đơn anh Võ Ngọc Đ trình bày trong bản tự hai, biên bản lấy l i hai trong quá trình làm việc như sau:

Anh Đ và chị V đăng

ết hôn với nhau vào ngày 14/3/2007 tại Ủy ban nhân dân xã MH, huyện Q, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Th i gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau này do tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không có tiếng nói chung nên thư ng xảy ra cãi vã, mâu thuẫn trong cuộc sống hàng ngày, qua th i gian ly thân hai bên hông thể h a giải được mâu thuẫn, nay chị V viết đơn đề nghị xin ly hôn, anh Đ thấy hông thể níu éo được tình cảm vợ chồng nên đồng giải quyết ly hôn.

Về con chung, vợ chồng có với nhau 02 ngư i con chung là Võ Phương L, sinh ngày 25/10/2006 và Võ Phương U, sinh ngày 18/11/2015, giải quyết ly hôn anh Đ đồng giao nuôi con theo như iến trình bày của chị V và nguyện vọng của con, cụ thể giao ngư i con đầu Võ Phương L cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao ngư i con thứ hai Võ Phương U cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên hông có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

2

Đối với phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, anh Võ Ngọc Đ có ý iến đề nghị để lại cho các con, hông yêu cầu chia tài sản chung theo như iến của chị V đã trình bày.

- Ý iến của đại diện Viện iểm sát nhân dân huyện Qu Hợp tại phiên t a:

Qua iểm sát giải quyết vụ án từ hi thụ l vụ án cho đến trước hi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên t a thấy r ng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư , nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, quá trình hỏi và tranh luận tại phiên t a đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có mặt tham gia giải quyết vụ việc theo giấy triệu tập, tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã dược triệu tập hợp lệ nhưng tiếp tục vắng mặt hông có l do chính đáng, không chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, do đó cần xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 29; 33; 51; 56; 59; 62; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; hoản 1 Điều 28; 35; 39; hoản 2 Điều 227 và hoản 3 Điều 228; hoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án, để xét xử.

Về quan hệ hôn nhân: Cần chấp nhận đơn hởi iện, cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Võ Ngọc Đ.

Cần xem xét giao ngư i con đầu Võ Phương L, sinh ngày 10/01/2010 cho anh Võ Ngọc Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao ngư i con thứ hai Võ Phương U, sinh ngày 18/11/2015 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên hông phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau, việc giao nuôi con được thực hiện ể từ hi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, bên hông trực tiếp nuôi con có quyền thăm gặp con, hông ai được cản trở.

Về phần tài sản chung, xác định những tài sản có tranh chấp được tạo lập nên trong th i hôn nhân, là tài sản chung hợp pháp của vợ chồng, do đó cần chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của chị V đối với 02 thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ mang tên Võ Ngọc Đ và Nguyễn Thị V và 01 căn nhà xây cấp 4.

Buộc nguyên đơn và bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, án phí chia tài sản theo phần tài sản mình được chia theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn có mặt hông có iến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a, căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

3

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị V có đơn, yêu cầu giải quyết xin ly hôn đối với anh Võ Ngọc Đ, đề nghị giao mỗi bên trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 ngư i con chung chưa thành niên, hai bên hông có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng đối với 02 thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ và 01 căn nhà xây cấp 4. Theo quy định tại hoản 1 Điều 51 luật Hôn nhân và gia đình và hoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản hi ly hôn”.

Bị đơn anh Võ Ngọc Đ có nơi đăng hộ hẩu và cư trú tại xóm MX, xã MH, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án nhân dân huyện Qu Hợp, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a hoản 1 Điều 35; điểm a hoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định, bị đơn hông chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tuy được triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc nhưng vắng mặt không có lý do, quá trình giải quyết vụ án có mặt để tham gia xem xét, thẩm định và định giá tài sản nhưng từ chối vào biên bản. Bị đơn đã được giao giấy triệu tập đến tham gia phiên t a theo quy định nhưng tiếp tục vắng mặt không có lý do, nên cần áp dụng điểm b hoản 2 Điều 227 và hoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V và anh Võ Ngọc Đ đăng

ết hôn với nhau vào ngày 14 tháng 3 năm 2007 tại U ban nhân dân xã MH, huyện Qu Hợp, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa hai bên hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo về điều kiện đăng kết hôn và đúng thủ tục quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Sau hi ết hôn chung sống một th i gian vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng hông h a hợp về tính cách, hông có tiếng nói chung trong cuộc sống, thư ng xuyên xảy ra cãi vã, va chạm trong cuộc sống, dẫn đến cuộc sống hôn nhân hông hạnh phúc. Quá trình lấy l i khai và xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng cho thấy, hai bên có nhiều mâu thuẫn hông thể h a giải đoàn tụ được, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị V giữ nguyên iến xin được giải quyết ly hôn đối với anh Võ Ngọc Đ và anh Đ có iến đồng giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Thị V. Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đ i sống chung hông thể éo dài, mục đích của hôn nhân hông đạt được, vợ chồng có iến hông quay trở lại đoàn tụ với nhau. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị V đối với anh Võ Ngọc Đ.

Về con chung: Qua xem xét tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp, xác minh về hoàn cảnh, môi trư ng sống và hả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con, nguyện vọng của con chung, cũng như iến của các đương sự. Xét thấy sau khi

4

giải quyết ly hôn cần xem xét giao ngư i con đầu Võ Phương L, sinh ngày 25/10/2006 cho anh Võ Ngọc Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao ngư i con thứ hai Võ Phương U, sinh ngày 18/11/2015 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên hông có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho nhau là hợp tình, hợp l . Việc giao con chung cho các bên trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cần được thực hiện ể từ hi bản án có hiệu lực pháp luật, cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, bên hông trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung hông ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Qua xem xét tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, l i hai của các đương sự xác định thửa đất số 17071.03.15A3, t bản đồ số 03, có diện tích là 52,8m2 (loại đất ở tại nông thôn ONT), thửa đất được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ số AD 298757 ngày 16/10/2007, tên ngư i sử dụng đất là hộ ông Võ Ngọc Đ và vợ Nguyễn Thị V, trên thửa đất có xây dựng 01 căn nhà xây cấp 4 hiện gia đình đang sinh sống là tài sản chung của vợ chồng được cho tặng, hình thành trong th i hôn nhân hợp pháp. Theo l i hai của các đương sự thửa đất có nguồn gốc được bố, mẹ đẻ của anh Võ Ngọc Đ cho hai vợ chồng và đã hoàn tất thủ tục, được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ cho anh Võ Ngọc Đ và chị Nguyễn Thị V từ năm 2007. Gia đình anh Đ, chị V xây dựng nhà ở trên đất từ đó cho đến hông có tranh chấp với ai và hoàn toàn hợp pháp, GCNQSDĐ ghi cấp cho ngư i sử dụng đất là “hộ” ông Võ Ngọc Đ và vợ Nguyễn Thị V, tuy nhiên vào th i điểm cấp GCNQSDĐ năm 2007 được xác định hộ gia đình anh Đ, chị V chỉ có hai vợ chồng và ngư i con đầu Võ Phương L, sinh ngày 25/10/2006 đang c n nhỏ chưa có công sức đóng góp trong việc tạo lập nên thửa đất, cháu L có bản tự hai xác nhận thửa đất là tài sản riêng của bố, mẹ bản thân cháu hông có đóng góp và yêu cầu gì đối với thửa đất được cấp GCNQSDĐ cho “hộ”, nên xác định thửa đất số 17071.03.15A3, t bản đồ số 03, có diện tích là 52,8m2 (loại đất ở tại nông thôn ONT) được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ số AD 298757 ngày 16/10/2007 là tài sản chung hợp pháp của anh Võ Ngọc Đ và chị Nguyễn Thị V.

Căn cứ theo số liệu bản đồ địa chính đo đạc mới năm 2014 để cấp đổi GCNQSDĐ hi có yêu cầu thì thửa đất số 17071.03.15A3, t bản đồ số 03 được xác định lại là thửa số 38, t bản đồ số 80, có tổng diện tích đo mới là 140,6m2, sau khi trừ diện tích đất thuộc hành lang an toàn giao thông 63,5m2, diện tích đất c n lại n m trong quy hoạch để được cấp đổi GCNQSDĐ là 77,1m2 (như vậy diện tích đất phù hợp với quy hoạch tăng thêm theo số liệu đo đạc địa chính mới năm 2014 so với diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ số AD 298757 ngày 16/10/2007 là 24,3m2).

Đối với thửa đất số 15A2, t bản đồ số 03, có diện tích là 76,0m2 (loại đất ở tại nông thôn ONT), thửa đất được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ số BK 417328 ngày 23/01/2013, tên ngư i sử dụng đất là ông Võ Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị V,

5

đang là đất trống chưa xây dựng công trình trên đất, được xác định có nguồn gốc do anh Đ, chị V mua lại và hoàn tất thủ tục được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ theo quy định vào năm 2013, là tài sản hình thành trong th i hôn nhân nên được xác định là tài sản chung của vợ chồng.

Căn cứ theo số liệu bản đồ địa chính đo đạc mới năm 2014 để cấp đổi GCNQSDĐ hi có yêu cầu thì thửa đất số 15A2, t bản đồ số 03 được xác định lại là thửa số 52, t bản đồ số 80, có tổng diện tích đo mới là 146.2m2, sau khi trừ diện tích đất thuộc hành lang an toàn giao thông 69,8m2, diện tích đất c n lại n m trong quy hoạch để được cấp đổi GCNQSDĐ là 76,4m2 (như vậy diện tích đất phù hợp với quy hoạch tăng thêm theo số liệu đo đạc địa chính mới năm 2014 so với diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ số BK 417328 ngày 23/01/2013 là 04m2).

Căn nhà xây cấp 4 lợp tôn xốp được xây dựng trong th i hôn nhân hợp pháp của vợ chồng nên được xác định là tài sản chung của vợ chồng tạo lập nên.

Căn cứ vào biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng dân sự xác định ngày 18/7/2022, trị giá những tài sản chung có tranh chấp của anh Võ Ngọc Đ và chị Nguyễn Thị V được định giá trị như sau:

Đối với thửa đất số 17071.03.15A3, t bản đồ số 03, diện tích là 52,8m2 (loại đất ở tại nông thôn ONT), thửa đất được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ số AD 298757 ngày 16/10/2007 (diện tích đất phù hợp với quy hoạch theo số liệu đo đạc địa chính mới năm 2014 tăng thêm là 24,3m2 so với diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ), được định giá là 1.192.500.000 đồng (Một t , một trăm chín mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng).

Căn nhà xây cấp 4, lợp tôn xốp gắn liền với thửa đất số 17071.03.15A3, t bản đồ số 03, có 04 ph ng gồm 01 ph ng hách, 02 ph ng ngủ và 01 ph ng bếp, công trình vệ sinh, có chiều rộng 5,02m, chiều dài 17,36m, tư ng xây b ng gạch táp lô, nền lát gạch men, mái lợp tôn xốp, xà gồ b ng thép, cửa chính là cửa lùa làm b ng thép, được định giá là 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng)

Thửa đất số 15A2, t bản đồ số 03, diện tích là 76,0m2 (loại đất ở tại nông thôn ONT), thửa đất được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ số BK 417328 ngày 23/01/2013 (diện tích đất phù hợp với quy hoạch theo số liệu đo đạc địa chính mới năm 2014 tăng thêm là 04m2 so với diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ), được định giá là 1.131.000.000 đồng (Một t , một trăm ba mươi mốt triệu đồng).

Quá trình giải quyết hông xác định được phần công sức đóng góp cụ thể của mỗi bên, tài sản tranh chấp có nguồn gốc được tặng cho, mua mới và tạo lập nên trong th i hôn nhân hợp pháp, được xác định là tài sản chung của vợ chồng, cả hai bên đều có công sức đóng góp như nhau nên đều có quyền sử dụng, định đoạt, yêu cầu chia tài sản theo quy định của pháp luật, do đó cần xem xét chia đôi hối tài sản chung có tranh chấp cho cả hai bên. Tuy nhiên xét thấy thửa đất có nhà ở xây dựng gắn liền trên đất có nguồn gốc do bố, mẹ anh Đ cho vợ chồng, nên cần xem

6

xét giao lại cho anh Võ Ngọc Đ quyền sử dụng đối với thửa đất số 17071.03.15A3, t bản đồ số 03, có diện tích là 52,8m2 (loại đất ở tại nông thôn ONT), được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ số AD 298757 ngày 16/10/2007 (diện tích đất phù hợp với quy hoạch theo số liệu đo đạc địa chính mới năm 2014 tăng thêm là 24,3m2 so với diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ), tên ngư i sử dụng đất là hộ ông Võ Ngọc Đ và vợ Nguyễn Thị V, đồng th i giao cho anh Đ quyền sở hữu, sử dụng đối với căn nhà xây cấp 4, lợp tôn xốp xây dựng gắn liền với thửa đất là phù hợp.

Xem xét giao cho chị Nguyễn Thị V quyền sử dụng đối với thửa đất số 15A2, t bản đồ số 03, có diện tích là 76,0m2 (loại đất ở tại nông thôn ONT), thửa đất được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ số BK 417328 ngày 23/01/2013 (diện tích đất phù hợp với quy hoạch theo số liệu đo đạc địa chính mới năm 2014 tăng thêm là 04m2 so với diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ), tên ngư i sử dụng đất là ông Võ Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị V. Thửa đất đang là đất trống, chưa xây dựng công trình trên đất để chị V tạo lập nơi sinh sống và mở cơ sở inh doanh là phù hợp và anh Đ có nghĩa vụ trả một phần tiền chênh lệch về giá trị tài sản cho chị V là hợp l .

Giao cho hai bên tạm th i quản l đối với diện tích đất tăng thêm theo số liệu đo đạc năm 2014, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương, khi các bên có nhu cầu cấp đổi GCNQSDĐ và có yêu cầu ê hai diện tích tăng thêm vào GCNQSDĐ được cấp mới thì cần tuân theo các quy định của Luật đất đai và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế với Nhà nước theo quy định.

Đối với số tiền chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản đã chi phí là 3.900.000 đồng, căn cứ vào các Điều 157, 158, 165 và 166 Bộ luật tố tụng dân sự cần buộc mỗi bên chịu một nửa chi phí, tương ứng với giá trị tài sản mà mình được chia. Nguyên đơn đã nộp toàn bộ tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản trước đó nên cần buộc bị đơn hoàn trả lại cho nguyên đơn một nửa chi phí theo quy định.

Về án phí: Nguyên đơn và bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào hoản 1 Điều 56; các Điều 33; 51; 59; 62; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ vào hoản 1 Điều 28; các Điều 35; 39; 157; 158; 165 và 166; điểm b hoản 2 Điều 227; hoản 3 Điều 228; Điều 271 và 273; hoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điểm a, b hoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án, xử:

7

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Võ Ngọc Đ.

2. Về con chung: Giao ngư i con đầu Võ Phương L, sinh ngày 25/10/2006 cho anh Võ Ngọc Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao ngư i con thứ hai Võ Phương U, sinh ngày 18/11/2015 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Việc giao con chung cho các bên trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng được thực hiện ể từ hi bản án có hiệu lực pháp luật, cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành

Bên hông trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, hông ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Giao cho anh Võ Ngọc Đ được quyền sử dụng (quyền của ngư i sử dụng đất được quy định theo Luật đất đai) đối với thửa đất số 17071.03.15A3, t bản đồ số 03, có diện tích là 52,8m2 (loại đất ở tại nông thôn ONT), được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ số AD 298757 ngày 16/10/2007, tên ngư i sử dụng đất là hộ ông Võ Ngọc Đ và vợ Nguyễn Thị V có trị giá là 1.192.500.000 đồng (Một t , một trăm chín mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Tạm giao cho anh Đ quản l , sử dụng đối với diện tích đất tăng thêm theo số liệu đo đạc địa chính mới năm 2014 là 24,3m2, sau này anh Đ có yêu cầu cấp đổi GCNQSDĐ và có nhu cầu ê khai diện tích đất tăng thêm vào GCNQSDĐ mới, cần tuân theo các văn bản hướng dẫn, quy định của Luật đất đai và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế với Nhà nước theo quy định.

Giao cho anh Đ được quyền sở hữu, sử dụng đối với căn nhà xây cấp 4, lợp tôn xốp được xây dựng, gắn liền với thửa đất số 17071.03.15A3, t bản đồ số 03 đã được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ cho ngư i sử dụng là hộ ông Võ Ngọc Đ và vợ Nguyễn Thị V có trị giá là 32.000.000 đồng (ba mươi hai triệu đồng).

Giá trị phần tài sản anh Võ Ngọc Đ được chia là 1.224.500.000 đồng (Một t , hai trăm hai mươi tư triệu, năm trăm nghìn đồng).

Anh Võ Ngọc Đ có nghĩa vụ trả tiền chênh lệch về giá trị tài sản cho chị Nguyễn Thị V là 46.750.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản anh Võ Ngọc Đ được hưởng sau hi trừ đi nghĩa vụ trả số tiền chênh lệch về giá trị tài sản 46.750.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) cho chị Nguyễn Thị V, còn lại là 1.177.750.000 đồng (Một t , một trăm bảy mươi bảy nghìn, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Giao cho chị Nguyễn Thị V được quyền sử dụng (quyền của ngư i sử dụng đất được quy định theo Luật đất đai) đối với thửa đất số 15A2, t bản đồ số 03, có diện tích là 76,0m2 (loại đất ở tại nông thôn ONT), thửa đất được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ số BK 417328 ngày 23/01/2013, tên ngư i sử dụng đất là ông Võ Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị V có trị giá là 1.131.000.000 đồng (Một t , một trăm ba mươi mốt triệu đồng). Tạm giao cho chị vân quản l , sử dụng đối với diện tích đất

8

tăng thêm theo số liệu đo đạc địa chính mới năm 2014 là 4m2, sau này chị V có yêu cầu cấp đổi GCNQSDĐ và có nhu cầu ê hai thêm diện tích đất tăng thêm vào GCNQSDĐ mới cần tuân theo các văn bản hướng dẫn, quy định của Luật đất đai và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế với Nhà nước theo quy định.

Phần tài sản chị V được chia gồm giá trị quyền sử dụng thửa đất số 15A2, t bản đồ số 03 có diện tích là 76,0m2 (loại đất ở tại nông thôn ONT), thửa đất được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ số BK 417328 ngày 23/01/2013, tên ngư i sử dụng đất là ông Võ Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị V và số tiền 46.750.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) anh Võ Ngọc Đ có nghĩa vụ trả chênh lệch giá trị về tài sản cho chị V. Tổng giá trị tài sản chị Nguyễn Thị V được hưởng là 1.177.750.000 đồng (Một t , một trăm bảy mươi bảy nghìn, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Sau hi Bản án có hiệu lực pháp luật chị Nguyễn Thị V và anh Võ Ngọc Đ có nghĩa vụ đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục ê hai, đăng lại quyền sử dụng đất của mình được chia theo quy định của pháp luật.

4. Về chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản: Anh Võ Ngọc Đ có nghĩa vụ hoản trả lại ½ số tiền chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản cho chị Nguyễn Thị V với số tiền là 1.950.000 đồng (Một triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng).

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị V chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), ngoài ra chị V phải chịu tiền án phí chia tài sản chung là 47.332.500 đồng (Bốn mươi bảy triệu, ba trăm ba mươi hai nghìn, năm trăm đồng), nhưng được hấu trừ số tiền 6.875.000 đồng (Sáu triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) chị V đã nộp tạm ứng án phí trước đó theo biên lai thu số: 0007335 ngày 16/12/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Qu Hợp, tỉnh Nghệ An. Chị V phải nộp tiếp số tiền án phí c n thiếu là 40.757.500 đồng (Bốn mươi triệu, bảy trăm năm mươi bảy nghìn, năm trăm đồng).

Anh Võ Ngọc Đ chịu án phí chia tài sản chung là 47.332.500 đồng (Bốn mươi bảy triệu, ba trăm ba mươi hai nghìn, năm trăm đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư i được thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho ngư i được thi hành án) cho đến hi thi hành án xong, bên phải thi hành án c n phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công hai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

9

Nguyên đơn có quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày, ể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày, ể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ