vanban.org

Bản án 128/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 26/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 17-02-2020. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 609/GĐKTHS. Trả lại bị cáo số tiền 2.000 đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án (Vật chứng có đặc điểm như biên bản gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2020/HSST
Ngày: 26-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ THnh Dũng.

Ông Nguyễn Văn Quỹ.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định. Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 112/2020/TLST-HS ngày 30-3-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2020/QĐ-HSST ngày 12-5-2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1965 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 02/01/42 đường P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở: Số nhà 63/7/5 tổ 6, khu phố 3C, phường T, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh H và bà Trịnh Thị T; có vợ Hoàng Thị Mai H và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19-5-1984 Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam Ninh xử phúc thẩm phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”; bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã số 21 ngày 05-7-2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-02-2020 sau đó chuyển tạm giam đến nay Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng: Anh Trần Văn H và chị Đào Thị Mai H (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 17-6-2019 Tổ công tác Phòng Cảnh sát quản lý Hnh chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 7 ngõ 176 đường G, phường T, thành phố N, phát hiện Nguyễn Mạnh H điều khiển xe máy BKS D1-62906 chở Hoàng Thị Mai H (Là vợ H) sinh năm 1966, hộ khẩu thường trú: Số 159/7 N, phường 3, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra phát hiện thu giữ trong túi quần bên trái của H 01 gói nilong màu đen, mở kiểm tra bên trong là gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột dạng cục màu trắng (H khai là Heroin) thu giữ trong túi quần bên phải của H 01 ống Novocain, 01 xi lanh và số tiền 2000 đồng. Tổ công tác đã niêm phong gói ma túy đưa H, H và mời người làm chứng về trụ sở lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang. Ngoài ra còn tạm giữ của H chiếc xe máy BKS D1-62906.

Bản kết luận giám định số 609/GĐKTHS ngày 20-6-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói nhỏ thu giữ của Nguyễn Mạnh H được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại ma túy là Heroine, khối lượng mẫu 0,170 gam (Không phẩy một bảy mươi gam).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh H khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mục đích để sử dụng và khai nhận nguồn gốc số ma túy trên như sau: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 17-6-2019, H điều khiển xe máy BKS D1-62906 chở vợ là Hoàng Thị Mai H, trên đường đi H bảo H đưa cho 100.000 đồng, H đồng ý đưa H 100.000 đồng. H chở H đến khu vực 3 tầng đường P, phường T, thành phố N thì H dừng xe bảo H đứng đợi để H đi có việc, H xuống xe đi bộ 01 mình vào khu 3 tầng đường P, thành phố N gặp 01 người đàn ông (Không rõ lai lịch) mua 01 gói Heroin với giá 100.000 đồng, H cất gói ma túy vừa mua trong túi quần bên trái đi ra chỗ H đứng đợi, đi xe máy chở H đến 01 hiệu thuốc tân dược trên đường T, thành phố N H vào hiệu thuốc mua 01 ống Novocain và 01 chiếc xi lanh hết 3000 đồng cất trong túi quần bên phải đang mặc. Khi H đang chở H đến khu vực trước cửa số nhà 7 ngõ 176 đường G, phường T, thành phố N, thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát quản lý Hnh chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt giữ như đã nêu trên. Tại Cơ quan điều tra H khai việc H đi mua ma túy H hoàn toàn không biết.

Trong quá trình làm việc tại Phòng Cảnh sát quản lý Hnh chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Nam Định, H có biểu hiện vật vã, tay chân co giật, mũi và mồm chảy máu (H và H khai vì H bị bệnh lao phổi nên có những biểu hiện như trên) nên Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Nam Định đã đưa H vào bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định để khám chữa và điều trị bệnh. Sau đó H đã cùng vợ bỏ đi vào thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 17-02-2020 Nguyễn Mạnh H bị bắt theo Quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N. Sau khi bị bắt và được di lý về trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định, H tiếp tục khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 112/CT-VKSTPNĐ ngày 06-4-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Nguyễn Mạnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Mạnh H xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay nhục hình. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu là đúng và khai nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý đã thu giữ của bị cáo. Trả lại bị cáo Nguyễn Mạnh H số tiền 2000 đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi Hnh án.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, Quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, Người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, Người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Mạnh H có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; bản kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng nên đã có đủ cơ sở kết luận khoảng 12 giờ 00 phút ngày 17-6-2019, tại khu vực trước cửa số nhà 07 ngõ 176 đường Giải Phóng, phường Trường Thi, thành phố N, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,170 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu đã từng bị đưa ra xét xử.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 gói ma túy trong phong bì niêm phong số 609/GĐKTHS là vật NH nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 2.000 đồng là tài sản riêng của bị cáo nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo và chiếc xe máy biển kiểm soát 29D1-62906 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đang tiến hành xác minh nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với hành vi tàng trữ 01 xi lanh và 01 ống Novocain để sử dụng ma túy, Công an thành phố N đã xử phạt hành chính đối với Nguyễn Mạnh H là đúng với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 17-02-2020.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 609/GĐKTHS. Trả lại bị cáo số tiền 2.000 đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 4 năm 2020 giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Mạnh H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi Hnh theo Điều 2 Luật Thi Hnh án dân sự thì người phải thi Hnh án có quyền tự nguyện thi Hnh hoặc cưỡng chế thi Hnh án. Thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hnh án dân sự./.

Cỡ chữ