vanban.org

Bản án 128/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 28/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Đào Huy T 15 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Cho bị cáo được hưởng án treo.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Huy T VPQD về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đào Huy T 15 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Cho bị cáo được hưởng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2020/HS-ST
Ngày: 28-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Văn Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thân văn Nhàn

2. Bà Nguyễn Thị Lại

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân huyện V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy- Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2020/HSST ngày 08/9/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2020/QĐXXST- HS, ngày 16 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Đào Huy T, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn L, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; con ông Đào Văn N và bà Trần Thị L; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên toà).

* Bị hại: Anh Triệu Công S, sinh năm 2003 (đã chết)

* Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Triệu Văn H, sinh năm 1979 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn

2. Bà Hoàng Thị Hồng, sinh năm 1978 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Dương Công TT, sinh năm 2000 (vắng mặt)

2. Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1979 (có mặt)

3. Anh Đào Văn N, sinh năm 1974 (có mặt)

4. Chị Trần Thị H, sinh năm 1979 (có mặt)

Cùng nơi cư trú: thôn L, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 24/12/2019, Đào Huy T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA- Wave biển kiểm soát 98B3- 217.57 chở anh Dương Công Toàn đi từ thôn Lực, xã Tân Mỹ đến huyện V chơi. Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi trên đoạn đường gom dân sinh (theo hướng từ thành phố Bắc Giang đi tỉnh Bắc Ninh), đến địa phận Tổ dân phố My Điền 3, thị trấn Nếnh phát hiện phía trước ngược chiều có xe mô tô biển kiểm soát 98H9- 9991 do anh Triệu Công S điều khiển. Do thiếu quan sát, không làm chủ tốc độ, bị cáo đi lấn sang phần đường bên trái dẫn đến phần đầu và sườn bên trái xe mô tô do Thông điều khiển đã va chạm với phần đầu và sườn bên trái xe mô tô do anh Sơn điều khiển. Hậu quả: 02 xe mô tô bị đổ, cả 03 người ngồi trên 02 xe bị ngã ra đường và bị thương. Đến ngày 25/12/2019 thì anh Sơn tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám nghiệm các phương tiện như sau:

Mặt đường được trải nhựa thẳng, phẳng, rộng 5,5m; bên phải là đường cao tốc Hà Nội – Bắc Giang chạy song song, bên trái đường là bãi đất trống. Những dấu vết để lại trên hiện trường cụ thể như sau:

Xe mô tô biển kiểm soát 98H9- 9991 (ký hiệu là 1) đổ nghiêng sang bên trái, nằm trên mặt đường nhựa, đầu xe hướng về phía tỉnh Bắc Ninh chếch sang bên phải đường, đuôi xe hướng về thành phố Bắc Giang chếch sang bên trái đường; trục bánh trước cách mép phải đường 2,1m; trục bánh sau cách mép phải đường 2,7m.

Cách trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 98H9- 9991 về hướng thành phố Bắc Giang là 0,85m là trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 98B3-217.57. Xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 217.57 (ký hiệu là 2), xe đổ nghiêng sang bên trái, nằm trên mặt đường nhựa; đầu xe hướng mép đường bên phải, đuôi xe hướng mép đường bên trái; trục bánh trước cách mép đường bên phải 1,8m, trục bánh sau cách mép đường bên phải 2,9m.

Cách trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 217.57 về phía tỉnh Bắc Ninh 0,9m là bãi mãnh nhựa vỡ trên mặt đường nhựa có kích thước (3 x 2)m (ký hiệu là 3), gồm các mảnh nhựa vỡ nhiều hình dạng, kích thước, màu đen, đỏ; tâm bãi mảnh nhựa vỡ cách mép đường nhựa bên phải 1,1m.

Tại vị trí phía dưới thân xe mô tô biển kiểm soát 98H9- 9991 là bãi dầu nhớt màu đen chảy loang trên mặt đường nhựa có kích thước (1,6 x 1)m (ký hiệu là 4), tâm bãi dầu nhớt cách mép phải đường nhựa 2,25m và cách trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 98H9- 9991 là 0,8m.

Khoảng cách từ trục bánh xe trước xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 217.57 đến chân cột cảnh báo nguy hiểm “ngã ba nơi giao nhau với đường đồng cấp” là 78m.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 98H9- 9991: màu sơn đỏ, đen:

Vỡ khuyết đèn pha, đèn xi nhan trước bên trái và mặt nạ đầu xe.

Cổ phốt bị gãy rời khỏi vị trí cố định.

Má ngoài bên trái lốp bánh trước có vết mài sát cao su, dính chất màu đỏ, kích thước (30 x 6)cm, tâm vết cách chân van 13cm.

Cạnh ngoài bên trái giá đỡ giỏ xe có vết chùn cong, mài sát kim loại, dính chất màu đỏ, hướng từ trước ra sau, kích thước (20 x 3)cm.

Đầu trước bên trái vỏ máy có vết nứt vỡ, mài sát kim loại, hướng từ trước ra sau, kích thước (25 x 8)cm, tâm vết cách đất 30cm.

Kết quả khám nghiệm trên xe mô tô biển kiểm soát 98B3- 217.57: màu sơn đỏ, đen, bạc:

Vỡ khuyết 1/2 đầu trước bên trái chắn bùn bánh trước, hệ thống đèn trước, mặt nạ đầu xe và 1/2 dưới cánh yếm trái.

Vành bánh trước bị cố định, chùn cong theo hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải, lốp mất hơi.

Mặt ngoài bên trái chắn bùn bánh trước có vết mài sát sơn nhựa, hướng từ trước ra sau, kích thước (30 x 8)cm, tâm vết cách đất 57cm.

Mặt ngoài ốp nhựa giảm sóc trước bên trái có vết nứt vỡ, mài sát sơn nhựa, hướng từ trước ra sau, kích thước (15 x 6)cm, tâm vết cách đất 54cm.

Mặt ngoài giảm sóc trước bên trái có vết mài sát kim loại, dính chất màu đen, hướng từ trước ra sau, kích thước (29 x 0,5)cm, tâm vết cách đất 30cm. Tại bản Kết luận giám định số 150/KL-KTHS ngày 11 tháng 02 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“5.1.Dấu vết nứt, vỡ, chùn cong, mài sát cao su, kim loại dính chất màu đỏ ở bên trái của xe mô tô 98H9- 9991: lốp bánh trước, giá để giỏ xe, vỏ máy được hình thành do va chạm với dấu vết nứt vỡ, chùn cong, mài sát sơn, nhựa, kim loại, dính chất màu đen ở bên trái của xe mô tô 98B3- 217.57 gồm: vành bánh trước, chắn bùn bánh trước, giảm sóc trước tạo nên là phù hợp.

5.2.Vị trí va chạm giữa xe mô tô 98H9- 9991 với xe mô tô 98B3- 217.57 trên mặt đường tại vị trí dấu vết ký hiệu số 4, thuộc phần đường bên phải theo hướng Bắc Ninh- Bắc Giang.

5.3. Không đủ cơ sở khoa học để xác định tốc độ của hai phương tiện khi xảy ra tai nạn.”

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của tử thi Triệu Công S xác định là 4,7mg/dl.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 3885/19/GĐPY ngày 27/12/2019 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận nguyên nhân chết của anh Triệu Công S là “Do đa chấn thương do tai nạn giao thông”.

Ngày 24 tháng 4 năm 2020, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện V đã tiến hành định giá và kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của 02 chiếc xe mô tô là 6.050.000 đồng.

Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 07/9/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố bị cáo Đào Huy T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V phát biểu lời luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Đào Huy T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đào Huy T từ 15 đến 18 tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không có ai có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị cáo, lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định:

Về chủ thể: Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Khách thể: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ được pháp luật hình sự bảo vệ.

Hành vi khách quan: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 24 tháng 12 năm 2019, tại đoạn đường gom dân sinh (cạnh đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang) theo hướng từ thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đi tỉnh Bắc Ninh, địa phận Tổ dân phố My Điền 3, thị trấn Nếnh, huyện V, tỉnh Bắc Giang, bị cáo Đào Huy T điều khiển xe mô tô đi lấn sang phần đường bên trái phần đường dành cho xe đi ngược chiều nên đã để phần đầu và phần sườn xe bên trái xe mô tô do Thông điều khiển va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98H9- 9991 do anh Triệu Công S điều khiển đi ngược chiều.

Hậu quả: ngày 25/12/2019 anh Triệu Công S chết do đa chấn thương.

Mặt chủ quan: Bị cáo vô ý phạm tội.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi của bị cáo Đào Huy T đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo là đúng người đúng tội.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng. Cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi gây tai nạn bị cáo đã tích cực tác động để bố mẹ bị cáo bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của người bị hại. Người đại diện hợp pháp của bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về hình phạt: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng. Cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Tuy nhiên bị cáo phạm tội vô ý, lại có nơi cư trú và công việc ổn định. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nên cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật hình sự như đề xuất của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không hành nghề lái xe, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Những vật chứng mà Cơ quan điều tra đã xử lý, không có ai yêu cầu nên không đưa ra xem xét xử lý trong bản án.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử phạt bị cáo Đào Huy T 15 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luât thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ