vanban.org

Bản án 128/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi ki n của bà Lý Kim H.

Về quan h hôn nhân: không công nhận bà Lý Kim H và ông Lương Văn T là vợ chồng. Về con chung: không chấp nhận yêu cầu của bà Lý Kim H. Giao cháu Lương Thành K, sinh ngày 13/11/2012 cho ông Lương Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà Lý Kim H không trực tiếp nuôi con chung nhưng bà có qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi ki n của bà Lý Kim H.
  • Căn cứ chính? Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 128/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2020
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đ ng Th Di u Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đ ng Hữu Tấn.

Bà Huỳnh Th Thúy Hoa.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 272/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 285/2020/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Lý Kim H, sinh năm: 1974. (có m t).

Đ a chỉ: số 753, tổ 31, ấp H, xã P, huy n S, tỉnh An Giang.

B đơn: ông Lương Văn T, sinh năm: 1978. (vắng m t).

Đ a chỉ: số 110, đường c p rạch M, khóm P, phường Q, thành phố X, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi ki n, tờ tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lý Kim H trình bày: bà và ông T sống chung năm 2011, hôn nhân do mai mối, vợ chồng không đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2012 thì có 01 con chung, từ sau khi sinh con thì bà và ông T phát sinh mâu thuẫn, ông T nhiều lần đánh đập và đuổi bà ra khỏi nhà. Bà và ông T không còn chung sống với nhau từ năm 2018, đến năm 2019 bà nộp đơn xin ly hôn nhưng Tòa án hòa giải, bà đồng ý hàn gắn tình cảm vợ chồng nên rút đơn khởi ki n. Tuy nhiên, sau khi rút đơn khởi ki n thì vợ chồng không hàn gắn được và cũng không tiếp tục chung sống với nhau, nhận thấy tình cảm không còn, nay bà yêu cầu ly hôn với ông T.

- Về con chung: có 01 con chung tên Lương Thành K, sinh ngày 13/11/2012. Năm 2018, khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn thì cháu K sống với bà đến ngày 26/12/2019 (âm l ch) thì ông T mang cháu K về nuôi dưỡng cho đến nay. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hi n nay bà làm thuê mỗi ngày thu nhập khoảng 100.000 đồng đủ khả năng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- B đơn ông Lương Văn T vắng m t trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến của ông T đối với yêu cầu khởi ki n của bà H. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự về vi c xét xử sơ thẩm vụ án;

- Nguyên đơn đã thực hi n đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy đ nh tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- B đơn chưa thực hi n đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy đ nh tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và còn phải ch u hậu quả pháp lý theo quy đ nh pháp luật. Về nội dung: đề ngh Hội đồng xét xử căn cứ Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình không công nhận bà H và ông T là vợ chồng; về con chung, cháu K đã trên 07 tuổi, nhưng Tòa án đã thực hi n xác minh vi c lấy ý kiến con chung nhưng không thực hi n được. Nhận thấy, cháu K đang được ông T chăm sóc, nuôi dưỡng, do đó nhằm đảm bảo ổn đ nh về tinh thần và đảm bảo quyền lợi về mọi m t cho con chung nên đề ngh chấp nhận giao con chung cho ông T chăm sóc nuôi dưỡng căn cứ theo quy đ nh tại Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: ông T m c dù đã được tri u tập hợp l nhưng nhiều lần vắng không có lý do, không tham gia các phiên hòa giải, công khai chứng cứ, không trình bày ý kiến của mình trong vụ án nên không xét đến. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không đề ngh xem xét.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lý Kim H vẫn giữ yêu cầu khởi ki n; b đơn ông Lương Văn T được tri u tập hợp l nhưng vắng m t không tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài li u có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh: [1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lý Kim H yêu cầu ly hôn với ông Lương Văn T. Ông T có nơi cư trú tại khóm P, phường Q, thành phố X, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy đ nh tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

B đơn ông Lương Văn T đã được Tòa án tri u tập hợp l đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng m t nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng m t theo quy đ nh tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Về quan h hôn nhân: bà Lý Kim H và ông Lương Văn T xác lập quan h vợ chồng và chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn nên hôn nhân của ông, bà không được pháp luật thừa nhận và bảo v , không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm, mâu thuẫn kéo dài nên bà H và ông T không còn chung sống với nhau khoảng 02 năm nay. Do bà H và ông T không đăng ký kết hôn theo quy đ nh pháp luật nên căn cứ vào khoản 1, Điều 9, Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử quyết đ nh không công nhận bà Lý Kim H và ông Lương Văn T là vợ chồng.

Về con chung: có 01 con chung tên Lương Thành K, sinh ngày 13/11/2012. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H trình bày từ năm 2018 đến năm 2019 thì cháu K sống chung với bà và do bà trực tiếp nuôi dưỡng đến ngày 26/12/2019 (âm l ch) thì ông T mang cháu K về nuôi dưỡng cho đến nay. Tuy nhiên, theo biên bản xác minh ngày 18/8/2020 tại nơi cư trú của bà H là ấp H, xã P, huy n S, tỉnh An Giang thì không xác đ nh được bà H có thời gian nuôi dưỡng cháu K. Bà H trình bày từ ngày 26/12/2019 (âm l ch) thì cháu K sống chung với ông T cho đến nay phù hợp với kết quả xác minh tại biên bản xác minh ngày 26/6/2020. M c dù không ghi nhận được ý kiến của cháu K do gia đình ông T không tạo điều ki n để Tòa án tiến hành ghi nhận ý kiến con chung nhưng xét thấy trong thời gian dài từ năm 2019 (âm l ch) đến nay cháu K được ông T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, đảm bảo điều ki n học tập, sinh hoạt cho cháu.

Trong quá trình giải quyết vụ án thì ông T cũng không có văn bản trình bày ý kiến phản đối về vi c tiếp tục nuôi con chung. Bà H cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh ông T không đủ điều ki n cũng như không hoàn thành nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Cháu K do ông T trực tiếp nuôi dưỡng đã ổn đ nh về chỗ ở, điều ki n sinh hoạt và môi trường học tập. Để tránh sự xáo trộn về tâm lý cũng như thay đổi điều ki n môi trường sống đột ngột và đảm bảo cuộc sống ổn đ nh cho cháu K, Hội đồng xét xử quyết đ nh không chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con chung của bà H, giao cháu Lương Thành K, sinh ngày 13/11/2012 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy đ nh tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: ghi nhận ý kiến của bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: bà H phải ch u án phí sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 9, Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 235, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 27 Ngh Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án. Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi ki n của bà Lý Kim H.

- Về quan h hôn nhân: không công nhận bà Lý Kim H và ông Lương Văn T là vợ chồng.

- Về con chung: không chấp nhận yêu cầu của bà Lý Kim H. Giao cháu Lương Thành K, sinh ngày 13/11/2012 cho ông Lương Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà Lý Kim H không trực tiếp nuôi con chung nhưng bà có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản bà H thực hi n quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết đ nh thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy đ nh.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: không xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: ghi nhận bà Lý Kim H xác đ nh không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hi u lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà Lý Kim H và ông Lương Văn T vẫn phải liên đới ch u trách nhi m với tư cách b đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Lý Kim H phải ch u án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003035 ngày 20/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà H đã nộp xong. Bà Lý Kim H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lương Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án ho c b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ