- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP V-Huỳnh Thị Ngọc Y"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2019/DS-ST Ngày 27 tháng 11 năm 2019 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Ni.
Các Hội thẩm nhân nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hơn.
2. Ông Lê Văn Kiệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Bạch - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 349/2019/TLST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V;
Địa chỉ: Số 89 đường L, phường L, quận Đ, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T – Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH Quản lý tài sản Ngân hàng TMCP V.
Địa chỉ: Số 96 đường C, phường B, quận B, thành phố H.
Ông Đỗ Thành T ủy quyền lại cho anh Phạm Thế Q – Chuyên viên xử lý nợ (theo giấy ủy quyền ngày 25/7/2019).
2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc Y, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Tổ S, ấp P, xã P, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang.
(Có mặt anh Q, vắng mặt bà Y)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 25/7/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Phạm Thế Q trình bày:
Ngày 22/3/2017, bà Huỳnh Thị Ngọc Y có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP V, giải ngân ngày 28/3/2017 (theo giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số CN/VN0010353/201703/121 ngày 22/3/2017), số tiền vay là 53.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng (từ 28/3/2017 đến 10/3/2022),thỏa thuận trả vốn và lãi hàng tháng, lãi suất thỏa thuận là 38%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay đã thỏa thuận, mục đích vay là sửa nhà. Bà Y đã trả tiền gốc được 2.823.531 đồng, đã trả tiền lãi là 9.022.875 đồng, tổng cộng là 11.846.406. Bà Y trả gốc, lãi đến 07/9/2017 thì ngưng. Đến ngày 25/7/2019, bà Y còn nợ số tiền nợ gốc là 50.176.469 đồng, số tiền lãi là 54.277.616 đồng, tổng cộng là 104.454.085 đồng.
Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, đôn đốc yêu cầu bà Y thanh toán nợ cho Ngân hàng nhưng đến nay bà Y vẫn chưa thanh toán tiền vay, tiền lãi cho ngân hàng mà còn cố tình né tránh.
Do đó, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng khởi kiện yêu cầu bà Y trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng số tiền nợ gốc là 50.176.469 đồng, số tiền lãi là 54.277.616 đồng, tổng cộng là 104.454.085 đồng (tạm tính đến ngày 25/7/2019) và tiền lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng đã ký kể từ ngày 26/7/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
* Bị đơn bà Huỳnh Thị Ngọc Y đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa, ông Phạm Phạm Thế Q trình bày: Yêu cầu bà Huỳnh Thị Ngọc Y trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền vốn vay còn nợ là 50.176.469 đồng, số tiền lãi trong hạn còn nợ là 42.794.953 đồng, lãi quá hạn là 21.397.476 đồng, tổng cộng là 114.384.844 đồng (tạm tính đến ngày 27/11/2019) và tiền lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng đã ký kể từ ngày 28/11/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử chuẩn bị nghị án đều đúng theo trình tự do Bộ luật tố tụng dan sự quy định. Bị đơn bà Huỳnh Thị Ngọc Y đã được triệu tập và tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do hai lần tại phiên xét xử nên đã vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Y trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền 114.384.844 đồng (trong đó: nợ gốc là 50.176.469 đồng, nợ lãi là 64.208.375 đồng) và tiền lãi phát sinh theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 28/11/2019 cho đến khi trả xong số nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời trình bày và phát biểu tranh luận của đương sự, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V căn cứ vào giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số CN/VN0010353/201703/121 ngày 22/3/2017 để khởi kiện yêu cầu bà Y trả số tiền vốn và lãi còn nợ. Bà Y vay tiền với mục đích sửa nhà. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 16 Điều 4, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn bà Huỳnh Thị Ngọc Y có hộ khẩu thường trú tại tổ S, ấp P, xã P, thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bà Huỳnh Thị Ngọc Y nhưng bà Y vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với bị đơn bà Huỳnh Thị Ngọc Yến.
Về yêu cầu của đương sự: Xét giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số CN/VN0010353/201703/121 ngày 22/3/2017 thể hiện bà Huỳnh Thị Ngọc Y có vay của Ngân hàng TMCP V là 53.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 38%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay đã thỏa thuận, mục đích vay là sửa nhà, thời hạn vay là 60 tháng, thỏa thuận trả vốn và lãi hàng tháng. Bà Y trả gốc lãi đến 07/9/2017 thì ngưng, ngân hàng có nhiều lần đốc thúc bà Y trả tiền, nhưng bà Y không thực hiện mà cố tình né tránh nghĩa vụ trả nợ. Như vậy bà Y không thực hiện đúng nghĩa vụ của bên vay tài sản, trả đủ tiền khi đến hạn, là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.
Hợp đồng có đầy đủ chữ ký, chữ viết họ tên Huỳnh Thị Ngọc Y. Căn cứ Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì bà Y phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh, đối chất số tiền đã vay hoặc cung cấp chứng cứ đã thanh toán tiền cho Ngân hàng. Tuy nhiên, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, bà Y không đến Tòa án cung cấp chứng cứ, đối chất về số tiền đã vay, đã thanh toán và không có ý kiến phản đối về chữ ký, chữ viết họ tên và số tiền nợ Ngân hàng nên xem như mặc nhiên thừa nhận số nợ theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không phải chứng minh. Do đó, căn cứ vào lời khai và chứng cứ là giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số CN/VN0010353/201703/121 ngày 22/3/2017 có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng theo quy định tại các Điều 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Y còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng theo Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thong qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Quan điểm và đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí: Bà Huỳnh Thị Ngọc Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 4, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V.
2. Buộc bà Huỳnh Thị Ngọc Y phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền vốn vay còn nợ là 50.176.469 đồng, số tiền lãi trong hạn còn nợ là 42.794.953 đồng, lãi quá hạn là 21.397.476 đồng, tổng cộng là 114.384.844 đồng (tạm tính đến ngày 27/11/2019).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Y còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
3. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Ngọc Y phải chịu 5.719.242 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch.
Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.612.000 (hai triệu sáu trăm mười hai ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0000322 ngày 26/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP V có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Huỳnh Thị Ngọc Yến có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TP Mỹ Tho; - Chi cục THADS TP Mỹ Tho; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Huyền Ni |