vanban.org

Bản án 128/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 23/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo KHÚC MẠNH T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Xử phạt bị cáo KHÚC MẠNH T: 15 ( mười lăm ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/3/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Khúc mạnh T, Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2018/HS-ST
Ngày 23-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮKLẮK

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hưng

Bà Nguyễn Thị Hồng Lâm

-Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Bích Dịu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Lễ – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 117/2018/HSST ngày 04 tháng 5 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Khúc Mạnh T; Sinh ngày 10/01/1995. Tại: Tỉnh Kon Tum.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn 9, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông: Khúc Mạnh N (đã chết) và con bà Đoàn Thị H, sinh năm 1967. Hiện trú tại: Thôn 9, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột, từ ngày 28/3/2018 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:Anh Phạm Xuân Tr; sinh ngày: 29/6/1995

Địa chỉ: Thôn 9, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum. ( Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 20/3/2018, có một nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) liên lạc với Khúc Mạnh T, bằng số điện thoại 0905843224 để đặt mua các loại pháo nổ gồm: Pháo bệ (loại pháo hình hộp có nhiều ống pháo liên kết lại với nhau); Pháo bi (loại pháo có hình tròn giống quả bóng đá); Pháo ông sư (loại pháo có hình dạng giống bóng đèn điện tròn) thì T đồng ý. Sau đó, T đến một tiệm internet ở thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum, để vào mạng xã hội Facebook và liên hệ với đối tượng Phạm Văn A (không rõ nhân thân lai lịch) để đặt mua pháo nổ với tổng giá trị là 9.800.000 đồng. Đến ngày 26/3/2018, A liên lạc vào số điện thoại 0973235174 của T và nói sẽ gửi số pháo nổ đã mua đến thành phố K, tỉnh Kon Tum, cho T bằng xe khách. Khoảng 19 giờ ngày 26/3/2018, T đến gần bến xe thành phố K, để nhận số pháo nổ do 01 người đi trên xe khách loại 16 chỗ đến giao, do trời tối nên T không thấy rõ biển số của chiếc xe khách. T nhận pháo nổ và giao số tiền: 9.800.000 đồng cho người giao pháo như lời dặn của A. Sau đó, T đem số pháo nổ này về để tại phòng trọ của bạn là anh Phạm Xuân Tr, địa chỉ: Số 552 đường H, thành phố, tỉnh Kon Tum. Do số pháo nổ này được để bên trong thùng cát tông dán kín, anh Tr không biết việc T buôn bán và cất giấu pháo nổ tại phòng trọ. Đến khoảng 14 giờ ngày 27/3/2018, T đón xe khách để đưa số pháo nổ trên từ thành phố K đến thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bán lại kiếm lời. T thỏa thuận bán số pháo nổ này cho nam thanh niên đã đặt mua trước đó với số tiền: 16.000.000 đồng và hẹn T giao pháo nổ tại khu vực chợ Đ, thành phố B. Khoảng 20 giờ cùng ngày, khi T xuống xe tại khu vực trước cổng trường tiểu học L (gần chợ Đ), xã E, thành phố B, để chờ người mua pháo nổ đến nhận hàng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, phối hợp với Phòng PC64 - Công an tỉnh Đắk Lắk, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật, gồm: 05 hộp pháo, mỗi hộp có 36 ống pháo hình trụ liên kết lại với nhau; 20 túi nylon bên trong có chứa các quả pháo hình tròn giống quả bóng đá và 239 quả pháo có hình dạng giống bóng đèn điện tròn. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã thu giữ: 01 điện thoại hiệu Nokia model 1280 (đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng máy) kèm theo sim điện thoại số 0973.235.174 của Khúc Mạnh T, để phục vụ công tác điều tra.

Tại Kết luận giám định số: 229/C54C-Đ3 ngày 30/3/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng – Bộ Công an xác định:

- 05 ( năm ) khối hình hộp, vỏ ngoài bọc giấy màu có in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối gồm 36 vật hình trụ, vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 7kg;

- 2000 ( hai nghìn) vật hình cầu, vỏ nhựa, trên mỗi vật gắn đoạn dây màu xanh được đựng trong 20 túi nylon đều là pháo nổ. Tổng khối lượng là 4kg;

- 239 ( hai trăm ba mươi chín) vật hình bóng đèn điện tròn, bên ngoài bọc giấy màu, trên mỗi vật gắn đoạn dây màu xanh đều là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 7,9kg.

Tại bản cáo trạng số 132/CT-VKSND TPBMT ngày 03/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Khúc Mạnh T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và theo nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Khúc Mạnh T: Từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy 17,1 kg pháo nổ còn lại sau giám định được đóng gói trong 02 thùng cát tông và niêm phong bằng dấu đỏ có nội dung : Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng- Viện khoa học hình sự.

Đối với anh Phạm Xuân Tr là người đã cho bị cáo Khúc Mạnh T để toàn bộ số pháo nổ tại phòng trọ nhưng anh Tr không biết hành vi phạm tội của T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, không đề cập xử lý, là phù hợp.

Đối với Phạm Văn A, là người đã bán số pháo nổ trên cho bị cáo Khúc Mạnh T. Do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tách ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Đối với đối tượng sử dụng số điện thoại 0905843224 để liên lạc với bị cáo Khúc Mạnh T, đặt mua pháo nổ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã có Công văn số: 900/CV-KT ngày 17/4/2018, đề nghị Mobifone tỉnh Đắk Lắk, cung cấp thông tin liên quan đến số thuê bao trên nhưng đến nay chưa xác định được đối tượng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tách ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau, là phù hợp .

Bị cáo Khúc Mạnh T không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của bị cáo Khúc Mạnh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận như sau: Vào ngày 20/3/2018, có một nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) liên lạc với Khúc Mạnh T để đặt mua các loại pháo nổ thì T đồng ý. Sau đó, T liên hệ với đối tượng Phạm Văn A (không rõ nhân thân lai lịch) để đặt mua pháo nổ với tổng giá trị là 9.800.000 đồng. Khoảng 19 giờ ngày 26/3/2018, T đến gần bến xe thành phố Kon Tum, để nhận số pháo nổ do 01 người đi trên xe khách loại 16 chỗ đến giao, T nhận pháo nổ và giao số tiền: 9.800.000 đồng cho người giao pháo như lời dặn của A. Sau đó, T đem số pháo nổ này về để tại phòng trọ của bạn là anh Phạm Xuân Tr, khoảng 14 giờ ngày 27/3/2018, T đón xe khách để đưa số pháo nổ trên đến thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bán lại cho nam thanh niên đã đặt mua trước đó với số tiền: 16.000.000 đồng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, khi T xuống xe tại khu vực trước cổng trường tiểu học L (gần chợ Đ), xã E, thành phố B, để chờ người mua pháo nổ đến nhận hàng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, phối hợp với Phòng PC64 - Công an tỉnh Đắk Lắk, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật, gồm: 05 hộp pháo, mỗi hộp có 36 ống pháo hình trụ liên kết lại với nhau; 20 túi nylon bên trong có chứa các quả pháo hình tròn giống quả bóng đá và 239 quả pháo có hình dạng giống bóng đèn điện tròn. Hành vi của bị cáo đã phạm tội buôn bán hàng cấm với số lượng pháo nổ là 18,9kg theo quy định tại theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều 190 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a) ……………………;

c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về một số loại hàng hóa do pháp luật quy định, đặc biệt là pháo nổ, một loại hàng hóa có khả năng gây sát thương lớn cho con người, đồng thời còn gây mất ổn định trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được các loại pháo nổ thuộc danh mục ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, mọi hành vi sản xuất, buôn bán pháo nổ đều bị pháp luật nghiêm trị, nhưng vì động cơ tham lam tư lợi, coi thường pháp luật bị cáo vẫn thực hiện hành vi buôn bán pháo nổ nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân tốt. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo trong khi quyết định hình phạt thể hiện được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 17,1 kg pháo nổ còn lại sau giám định được đóng gói trong 02 thùng cát tông và niêm phong bằng dấu đỏ có nội dung : Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng- Viện khoa học hình sự và tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại hiệu Nokia model 1280 ( đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy) kèm theo sim điện thoại số 0973.235.174 của bị cáo Khúc Mạnh T dùng vào việc phạm tội.

Trong vụ án này anh Phạm Xuân Tr là người đã cho bị cáo T để toàn bộ số pháo nổ tại phòng trọ nhưng anh Tr không biết hành vi phạm tội của T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, không đề cập xử lý, là phù hợp.

Đối với Phạm Văn A, là người đã bán số pháo nổ trên cho bị cáo do chưa xác định được nhân thân lai lịch; và đối tượng sử dụng số điện thoại 0905843224 để liên lạc với bị cáo T, đặt mua pháo nổ cũng chưa xác định được đối tượng, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tách ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp .

Xét quá trình điều tra, truy tố điều tra viên đã thi hành các quyết định tố tụng, tiến hành thu thập vật chứng cũng như lấy lời khai của bị cáo và các đương sự khác liên quan trong vụ án là đảm bảo đúng theo trình tự quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử kiểm sát viên đã thực hiện việc kiểm sát hoạt động tố tụng đúng theo quy định của pháp luật nên bị cáo không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo KHÚC MẠNH T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo KHÚC MẠNH T: 15 ( mười lăm ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/3/2018.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

-Tịch thu tiêu hủy 17,1 kg pháo nổ còn lại sau giám định cụ thể: 04 (bốn) khối hình hộp, vỏ ngoài bọc giấy màu có in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối gồm 36 vật hình trụ, vỏ giấy được liên kết với nhau; 1900 (một ngìn chín trăm) vật hình cầu, vỏ nhựa, trên mỗi vật gắn đoạn dây màu xanh được đựng trong 19 túi nylon; 233 (hai trăm ba mươi ba) vật hình bóng đèn điện tròn, bên ngoài bọc giấy màu, trên mỗi vật gắn đoạn dây màu xanh; Tất cả được đóng gói trong 02 thùng cát tông và niêm phong bằng dấu đỏ có nội dung: Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng - Viện khoa học hình sự.

-Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại hiệu Nokia model 1280 kèm theo sim (Sim không kiểm tra được và không kiểm tra chi tiết bên trong điện thoại).

(Các vật chứng có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 30/3/2018 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, Bộ Công an).

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Khúc Mạnh T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ