vanban.org

Bản án 128/2018/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Ngọc L phạm “Tội đánh bạc”

Xử phạt: Bị cáo Hà Ngọc L 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm tù tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Hà Ngọc L cho Ủy ban nhân dân phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Ngọc L phạm “Tội đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 128/2018/HS-ST
Ngày: 24/5/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, TP.HCM

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Trung Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương – Thư ký

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thủy Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 116/2018/TLST-HS ngày 15/5/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2018, đối với bị cáo:

Hà Ngọc L (tên gọi khác An, Lan); sinh năm: 1951; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số 24 đường x, khu phố y, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo:Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn N (C); và bà: Hà Thị L (C); chồng: Võ Văn V; có 4 con (lớn nhất sinh năm 1973, nhỏ nhất sinh năm 1985); tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày: 18/4/2018 đến ngày 20/4/2018 thay thế biện pháp ngăn chặn, áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Triều Văn N, sinh năm 1999, địa chỉ: Ấp N, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

2. Chị Huỳnh Thị Trúc M, sinh năm 1963, địa chỉ: 154/13 đường Đ, khu phố x, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng: Anh Hồ Tấn P,, sinh năm 1990. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng tháng 6 năm 2017, Hà Ngọc L bắt đầu đi ghi số đề dạo tại chợ T. Hàng ngày, L đi từ nhà xuống chợ T thuộc khu phố x, phường L, quận T để ghi số đề cho khách có nhu cầu, khi khách mua ô số đề thì gặp L đưa tiền và các con số cần ghi, L ghi vào 01 tờ giấy nhỏ đưa cho khách giữ để theo dõi khi có kết quả xổ số mà trúng thì mang đến gặp L lấy tiền, đồng thời ghi tiếp vào 01 tờ giấy A4 (gọi là phơi đề) để theo dõi. Cách thức ăn thua như sau: Ghi 1.000 đồng hai con số, nếu trúng được 70.000 đồng, ghi 1.000 đồng ba con số nếu trúng được 600.000 đồng. Sau khi ghi đề xong, L không giao lại cho người khác mà giữ lại để ăn thua với khách. Trung bình mỗi ngày L ghi cho khoảng 6 người với số tiền từ 3.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng, thu lợi được khoảng 200.000 đồng một ngày.

Vào ngày 18/4/2018, L đã ghi số đề cho một số người, trong đó Huỳnh Thị Trúc M với số tiền 50.000 đồng, đến khoảng 15 giờ cùng ngày, L đang ghi số đề cho Triều Văn N với số tiền 790.000 đồng ghi các con số 80, 10, 32, 60 bao lô Đồng Nai và Cần Thơ tại trước sạp hàng số 49 Chợ T của Huỳnh Thị Trúc M thì bị Công an quận Thủ Đức đến kiểm tra bắt quả tang, thu giữ của L 14.790.000 đồng (trong đó 8.973.000 đồng là tiền ghi đề ngày 18/4/2018 và 5.817.000 đồng là tiền L mang theo trả cho khách trúng). Thống kê phơi đề ngày 18/4/2018, L ghi được cho khách 11.505.000 đồng của các đài Đồng Nai, Cần Thơ.

Vật chứng thu giữ:

- 14.790.000 đồng (thu giữ của Hà Ngọc L, trong đó: 8.973.000 đồng là tiền ghi đề ngày 18/4/2018 và 5.817.000 đồng là tiền L mang theo trả cho khách trúng)

- 06 tờ giấy A4 dùng ghi phơi đề

- 01 máy tính hiệu Casio

- 06 tờ cùi giấy ghi đề có kích thước khác nhau (có chữ ký xác nhận của L)

- 01 cây bút bi.

Đối với Triều Văn N, Huỳnh Thị Trúc M có hành vi “Đánh bạc” với số tiền dưới 5.000.000 đồng, chưa đến mức xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức đã ra Quyết định xử phạt hành chính theo Nghị định 167/CP.

Đối với hành vi ghi đề của Hà Ngọc L từ tháng 06/2017 đến ngày 17/4/2018 thì chỉ có lời khai nhận của L, xác định ghi được cho 10 người và số số tiền thu được là từ 3.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Ngọc L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Trúc M không có ý kiến gì.

[2] Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 125/QĐ-VKSTĐ ngày 14/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức truy tố bị cáo Hà Ngọc L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Tòa án tuyên bị cáo Hà Ngọc L phạm tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự cùng các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo 06 tháng đến 09 tháng; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền đánh bạc, máy tính casio; tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại.

Bị cáo Hà Ngọc L không tranh luận hoặc bào chữa gì.

Bị cáo Hà Ngọc L nói lời sau cùng: Bị cáo biết tội, đã ăn năn hối hận, bản thân bị cáo bệnh, đã lớn tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Hà Ngọc L phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được, có căn cứ xác định các bị cáo Hà Ngọc L đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số đề ăn thua bằng tiền, với số tiền dùng để đánh bạc thu giữ của bị cáo là 14.790.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận các bị cáo Hà Ngọc L đã phạm “Tội đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định trừng trị tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã tham gia đánh bạc bằng hình thức ghi đề, sát phạt nhau được thua bằng tiền để tước đoạt tiền, tài sản của nhau, đã xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, hành vi đánh bạc còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần xử lý bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa.

Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là những tình tiết được quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điều 51 Bộ luật hình sự, nhân thân của bị cáo tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, bản thân là nữ đã lớn tuổi, quá trình tại ngoại không có vi phạm gì. Chiếu theo chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và nêu gương phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng:

- Số tiền 14.790.000 đồng là tiền sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước; 01 máy tính hiệu Casio là công cụ phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước, 01 cây bút bi là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

- 06 tờ giấy A4 dùng ghi phơi đề, 06 tờ cùi giấy ghi đề có kích thước khác nhau (có chữ ký xác nhận của L) là tài liệu kèm theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Hà Ngọc L phạm “Tội đánh bạc”

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt: Bị cáo Hà Ngọc L 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm tù tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Hà Ngọc L cho Ủy ban nhân dân phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 14.790.000 (Mười bốn triệu bảy trăm chín nươi ngàn) đồng, 01 máy tính hiệu Casio.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 cây bút bi

(Vật chứng tại phiếu nhập kho số 112 ngày 22/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, tiền tại Giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức ngày 09/5/2018 tại Kho bạc Nhà nước Thủ Đức)

Bị cáo Hà Ngọc L chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án; riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

(Đã giải thích chế định án treo)

Cỡ chữ