- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Võ Văn H"
- Tòa quyết gì? C n cứ vào hoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật T t ng dân sự n m 2015; c n cứ Điều 357, Điều 468, Điều 592 của Bộ luật Dân sự n m 2015; c n cứ Điều 9, Điều 42 của Luật Báo chí n m 2016; C n cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự n m 2008 sửa đổi, bổ sung n m 2014; c n cứ …
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án s : 1272/2023/DS-PT Ngày: 29 -12- 2023 V/v Tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt h i ngoài hợp đồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương
Các Thẩm phán:
Bà Đỗ Thị Hòa
Bà Nguyễn Thị Minh Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ý Tòa án nhân dân Thành ph Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 và 29 tháng 12 n m 2023 t i Tr s Tòa án nhân dân Thành ph Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công hai v án th lý s : 561/2023/TLPT-DS ngày 01 tháng 11 n m 2023 về việc: “Tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt h i ngoài hợp đồng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm s : 08/2023/DS-ST ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành ph Hồ Chí Minh bị háng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm s : 5406/2023/QĐPT-DS ngày 17/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm s : 16372/2023/QĐPT-DS ngày 07/12/2023, gi a các đương sự:
- Nguyên đơn:
1.Ông Võ V n H, sinh n m 1955
Địa chỉ: C Tổ A ấp P, xã T, thành ph M, tỉnh Tiền Giang.
2.Bà Buôn Krông Thị Tuyết N, sinh n m 1969
Địa chỉ: 9 Y, phường E, thành ph B, tỉnh Đắ Lắ .
Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Võ V n H, sinh n m 1955 (Giấy ủy quyền ngày 22/4/2021).
- Bị đơn: B1
Tr s : A V, Phường V, Quận C, Thành ph Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Trường H1, sinh n m 1978 (Giấy ủy quyền ngày 19/6/2023).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn V n Đ – Công ty L – thuộc Đoàn Luật sư Thành ph H.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quang T
Địa chỉ: S V n hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh G, s A T, phường T, thành ph P, tỉnh Gia Lai.
- Người kháng cáo: B1 là bị đơn và ông Nguyễn Quang T là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan.
(Ông H, ông H1, ông T, Luật sư Đ có mặt, ông H1, ông T, Luật sư Đ vắng mặt hi tuyên án).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn h i iện của nguyên đơn ông Võ V n H và bà Buôn Krông Thị Tuyết N và các lời hai trong quá trình giải quyết v án, ông H là nguyên đơn đồng thời là người đ i diện theo ủy quyền của bà N trình bày: Ông H và bà N là tác giả của cu n sách gỗ: “Thầy giáo Y Jut H (1885-1934) - người con ưu tú của T”. Đây là cu n sách hai tác giả viết về Thầy giáo Y Jut H’Wing, được thực hiện bằng 4 thứ tiếng là tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ê đê.
Trước hi thực hiện cu n sách, ông H được Hội K1 giới thiệu đến Ủy ban nhân dân tỉnh Đ (sau đây viết tắt là UBND tỉnh Đ), đến Trường Đ i học T2 để tìm tài liệu viết. Sau hi viết xong cu n sách, Trường Đ i học T2 đã thành lập Ban thẩm định nội dung và đưa đến Bảo tàng tỉnh Đ trưng bày từ n m 2015 đến n m 2018.
N m 2019, sau hi được Bảo tàng tỉnh góp ý, ông H và bà N đã chỉnh sửa c m từ “chiến sĩ cộng sản” thành “chí sĩ yêu nước” với lý do trong thời điểm lịch sử từ n m 1925-1929 có rất nhiều tổ chức yêu nước ra đời song song với phong trào Cộng sản, điển hình như Đ1 là tiền thân của Đ2.
Sau hi chỉnh lý, ngày 19/4/2019, Bảo tàng tỉnh Đ tổ chức triển lãm với chủ đề: “Tây Nguyên trong trái tim tôi”. UBND tỉnh Đ lập hội đồng thẩm định về giá trị lịch sử cũng như mỹ quan để sưu tầm cu n sách này vào Bảo tàng tỉnh để ph c v lâu dài trong cộng đồng và đưa lịch sử truyền th ng địa phương đến cho thế hệ mai sau.
Ngày 17/11/2019, B1 (sau đây viết là B2) có đ ng bài viết tựa đề: “Sửa sách gỗ Bảo tàng Đ: “Lợn què thành lợn gãy chân!”. Trong bài báo có nội dung cho rằng cu n sách của ông H và bà N t n ém, ít giá trị hoa học; nhà tù Buôn Ma T1 thành lập trong hoảng thời gian 1900-1930 là hông chính xác, dẫn chiếu nguồn tài liệu hông có giá trị. Ông H và bà N cho rằng bài viết nêu trên là sai sự thật, h thấp danh dự của tác giả cu n sách gỗ: “Thầy giáo Y Jut H (1885-1934) - người con ưu tú của T”. Nên ông H và bà N h i iện B1 (sau đây viết tắt là B2) yêu cầu B2 phải:
-Gỡ bài báo có tựa đề: “Sửa sách gỗ Bảo tàng Đ: “ Lợn què thành lợn gãy chân!”đ ng trên B2 online ngày 17/11/2019;
-Có công v n xin lỗi đồng tác giả bài viết;
-Xin lỗi công hai trên B2 theo Luật Báo chí n m 2016;
-Bồi thường thiệt h i 500.000.000 đồng (n m tr m triệu đồng) gồm: một đồng danh dự, 200.000.000 đồng bồi thường về tinh thần, 200.000.000 đồng bồi thường thiệt h i thu nhập thực tế bị mất, 100.000.000 đồng chi phí đi l i.
Bị đơn là B2 có ông Nguyễn Trường H1 người đ i diện theo ủy quyền trình bày: Bị đơn xác nhận ngày 17/11/2019, B2 có đ ng bài báo có tựa đề: “Sửa sách gỗ Bảo tàng Đ:“Lợn què thành lợn gãy chân!”của tác giả Nguyễn Quang T. Quan điểm của B2 hẳng định nội dung: “N m 1925 t i địa phương này, nhà tù Buôn Ma T1 chưa được xây dựng nên hông thể là nơi giam cầm các chiến sĩ cộng sản như đã nêu”, trong bài báo: “Sửa sách gỗ Bảo tàng Đ:“Lợn què thành lợn gãy chân!” đ ng trên B2 online ngày 17/11/2019 là hoàn toàn chính xác và có c n cứ hoa học vì:
Nhà tù (còn có cách gọi hác là Nhà đày/lao) Buôn Ma T1 (nay vẫn còn hiện h u và đã tr thành Di tích cấp qu c gia đặc biệt) nêu trong bài báo của tác giả Nguyễn Quang T mới là nơi từng giam gi các chiến sĩ cộng sản và được thực dân Pháp xây dựng từ n m 1930. Nhà tù này được xây mới chứ hông phải hình thành từ sự m rộng nhà lao B3 được xây dựng từ n m 1900 như ông H nói. Nhà tù mà bài báo nhắc đến là Nhà đày thuộc quyền quản lý của chính quyền Trung ỳ và chỉ được xây dựng từ n m 1930.
Nhà lao Buôn Ma T1 (mà trong sách gỗ của ông Võ V n H ghi là nhà tù Buôn M) là một nhà lao tỉnh (Prison provinci ele) được thực dân P sử d ng để giam tù thường ph m và giam cầm thủ tiêu nh ng người yêu nước, ch ng ách th ng trị của chúng. Nhà lao này được xây dựng vào n m 1900, ngay sau hi thực dân Pháp đặt ách cai trị Đắ Lắ . Hiện nay dấu tích hông còn n a.
Về tài liệu lịch sử nhà tù Buôn Ma T1 gồm: Sách Lịch sử nhà đày Buôn Ma T1 (1930-1945) được biên so n b i Tỉnh ủy Đ3 và Viện Lịch sử Đ4 (Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội 1991); Sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắ Lắ 1930 -1954 do Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đ biên so n (N2, Hà Nội.2002); Sách Địa chí Đ5 do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ biên so n (N3. Hà Nội.2015).
Từ nh ng d iện lịch sử nêu trên hẳng định: Nhà lao Buôn Ma T1 (xây dựng n m 1900) hông phải là nhà tù Buôn Ma T1 (xây dựng n m 1930), Nhà lao Buôn Ma T1 thuộc quyền quản lý của địa phương (tỉnh), nhà tù Buôn Ma T1 thuộc quyền quản lý của chính quyền Trung ỳ.
Về nội dung chiến sĩ cộng sản/chí sĩ yêu nước bị giam cầm n m 1925 Đắ Lắ là ai, có hay hông? B2 hẳng định: Đầu n m 1925, hông có sự việc đồng bào các dân tộc T trong đó có thầy giáo Y J vùng lên ch ng thực dân Pháp là nhờ sự ảnh hư ng b i các chiến sỹ cộng sản (chí sĩ yêu nước) bị giam cầm t i nhà tù B4. B i thời điểm đó hông có chiến sỹ cộng sản (chí sĩ yêu nước) nào bị giam cầm t i nhà T (thuộc quyền quản lý của chính quyền Đắ Lắ ) như nội dung sách gỗ của ông Võ V n H thể hiện.
Theo các tài liệu lịch sử chính th ng thì đến đầu n m 1925, hông có bất cứ sự ghi nhận nào liên quan đến các chiến sĩ cộng sản (chí sĩ yêu nước) bị giam cầm t i nhà tù (đày/lao) Buôn Ma T1. Không có tài liệu nào ghi nhận các “chí sĩ yêu nước” đã “lan tỏa ánh sáng cách m ng” đến phong trào ch ng thực dân Pháp trong cộng đồng các dân tộc T, trong đó có thầy giáo Y J như các tác giả sách gỗ đã viết.
Từ nh ng nội dung đã trình bày trên, c n cứ vào các tài liệu lịch sử chính th ng, B2 hẳng định nội dung bài báo “Sửa sách gỗ Bảo tàng Đ:“Lợn què thành lợn gãy chân!” ra ngày 17/11/2019 là hoàn toàn chính xác, có cơ s nên hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là ông Nguyễn Quang T trình bày: Ông là tác giả của bài báo: “Sửa sách gỗ Bảo tàng Đ:“Lợn què thành lợn gãy chân!”đ ng trên B2 online ngày 17/11/2019. Ông hoàn toàn th ng nhất với lời trình bày của bị đơn. Ông hẳng định các bài báo của ông là nh ng góp ý có giá trị thực tiễn, nội dung bài báo đã được đơn vị quản lý nhà nước cao nhất t i địa phương tiếp thu, chỉ đ o cơ quan trực thuộc tổ chức chỉnh sửa và cám ơn báo chí đã phát hiện, phản ánh. Do đó, nh ng nội dung ông trình bày trong bài viết là có cơ s hoa học, chính đáng, rõ ràng. Nên yêu cầu h i iện của nguyên đơn là hông có cơ s .
-T i phiên tòa sơ thẩm:
-Nguyên đơn trình bày: Gi nguyên yêu cầu h i iện về việc buộc Báo NLĐ gỡ bài báo có tựa đề: “Sửa sách gỗ Bảo tàng Đ: “ Lợn què thành lợn gãy chân!”đ ng trên B2 online ngày 17/11/2019; Xin lỗi công hai trên Báo NLĐ theo Luật Báo chí n m 2016; thay đổi một phần yêu cầu h i iện về bồi thường tổn thất về tinh thần là 200.000.000 đồng, bồi thường thiệt h i về thu nhập bị mất 200.000.000 đồng và chi phí đi l i là 100.000.000 đồng; rút một phần yêu cầu h i iện về buộc Báo NLĐ có công v n xin lỗi đồng tác giả bài viết.
-Đ i diện bị đơn và ông T vắng mặt.
T i Bản án dân sự sơ thẩm s : 08/2023/DS-ST ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành ph Hồ Chí Minh đã quyết định:
1/Chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của ông Võ V n H và bà B Krông Thị Tuyết N về việc buộc B1 gỡ bài báo
Ngày 17/11/2019, B1 (sau đây viết là B2) có đ ng bài viết tựa đề: “Sửa sách gỗ Bảo tàng Đ: “Lợn què thành lợn gãy chân!”. Trong bài báo có nội dung cho rằng cu n sách của ông H và bà N t n ém, ít giá trị hoa học; nhà tù Buôn Ma T1 thành lập trong hoảng thời gian 1900-1930 là hông chính xác, dẫn chiếu nguồn tài liệu hông có giá trị. Ông H và bà N cho rằng bài viết nêu trên là sai sự thật, h thấp danh dự của tác giả cu n sách gỗ: “Thầy giáo Y Jut H (1885-1934) - người con ưu tú của T”. Nên ông H và bà N kh i iện B1 (sau đây viết tắt là B2) yêu cầu B2 phải:
-Gỡ bài báo có tựa đề: “Sửa sách gỗ Bảo tàng Đ: “ Lợn què thành lợn gãy chân!”đ ng trên B2 online ngày 17/11/2019;
-Có công v n xin lỗi đồng tác giả bài viết;
-Xin lỗi công hai trên B2 theo Luật Báo chí n m 2016;
-Bồi thường thiệt h i 500.000.000 đồng (n m tr m triệu đồng) gồm: một đồng danh dự, 200.000.000 đồng bồi thường về tinh thần, 200.000.000 đồng bồi thường thiệt h i thu nhập thực tế bị mất, 100.000.000 đồng chi phí đi l i.
Bị đơn là B2 có ông Nguyễn Trường H1 người đ i diện theo ủy quyền trình bày: Bị đơn xác nhận ngày 17/11/2019, B2 có đ ng bài báo có tựa đề: “Sửa sách gỗ Bảo tàng Đ:“Lợn què thành lợn gãy chân!”của tác giả Nguyễn Quang T. Quan điểm của B2 hẳng định nội dung: “N m 1925 t i địa phương này, nhà tù Buôn Ma T1 chưa được xây dựng nên hông thể là nơi giam cầm các chiến sĩ cộng sản như đã nêu”, trong bài báo: “Sửa sách gỗ Bảo tàng Đ:“Lợn què thành lợn gãy chân!” đ ng trên B2 online ngày 17/11/2019 là hoàn toàn chính xác và có c n cứ hoa học vì:
Nhà tù (còn có cách gọi hác là Nhà đày/lao) Buôn Ma T1 (nay vẫn còn hiện h u và đã tr thành Di tích cấp qu c gia đặc biệt) nêu trong bài báo của tác giả Nguyễn Quang T mới là nơi từng giam gi các chiến sĩ cộng sản và được thực dân Pháp xây dựng từ n m 1930. Nhà tù này được xây mới chứ hông phải hình thành từ sự m rộng nhà lao B3 được xây dựng từ n m 1900 như ông H nói. Nhà tù mà bài báo nhắc đến là Nhà đày thuộc quyền quản lý của chính quyền Trung ỳ và chỉ được xây dựng từ n m 1930.
Nhà lao Buôn Ma T1 (mà trong sách gỗ của ông Võ V n H ghi là nhà tù Buôn M) là một nhà lao tỉnh (Prison provinci ele) được thực dân P sử d ng để giam tù thường ph m và giam cầm thủ tiêu nh ng người yêu nước, ch ng ách th ng trị của chúng. Nhà lao này được xây dựng vào n m 1900, ngay sau hi thực dân Pháp đặt ách cai trị Đắ Lắ . Hiện nay dấu tích hông còn n a.
Về tài liệu lịch sử nhà tù Buôn Ma T1 gồm: Sách Lịch sử nhà đày Buôn Ma T1 (1930-1945) được biên so n b i Tỉnh ủy Đ3 và Viện Lịch sử Đ4 (Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội 1991); Sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắ Lắ 1930 -1954 do Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đ biên so n (N2, Hà Nội.2002); Sách Địa chí Đ5 do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ biên so n (N3. Hà Nội.2015).
Từ nh ng d iện lịch sử nêu trên hẳng định: Nhà lao Buôn Ma T1 (xây dựng n m 1900) hông phải là nhà tù Buôn Ma T1 (xây dựng n m 1930), Nhà lao Buôn Ma T1 thuộc quyền quản lý của địa phương (tỉnh), nhà tù Buôn Ma T1 thuộc quyền quản lý của chính quyền Trung ỳ.
Về nội dung chiến sĩ cộng sản/chí sĩ yêu nước bị giam cầm n m 1925 Đắ Lắ là ai, có hay hông? B2 hẳng định: Đầu n m 1925, hông có sự việc đồng bào các dân tộc T trong đó có thầy giáo Y J vùng lên ch ng thực dân Pháp là nhờ sự ảnh hư ng b i các chiến sỹ cộng sản (chí sĩ yêu nước) bị giam cầm t i nhà tù B4. B i thời điểm đó hông có chiến sỹ cộng sản (chí sĩ yêu nước) nào bị giam cầm t i nhà T (thuộc quyền quản lý của chính quyền Đắ Lắ ) như nội dung sách gỗ của ông Võ V n H thể hiện.
Theo các tài liệu lịch sử chính th ng thì đến đầu n m 1925, hông có bất cứ sự ghi nhận nào liên quan đến các chiến sĩ cộng sản (chí sĩ yêu nước) bị giam cầm t i nhà tù (đày/lao) Buôn Ma T1. Không có tài liệu nào ghi nhận các “chí sĩ yêu nước” đã “lan tỏa ánh sáng cách m ng” đến phong trào ch ng thực dân Pháp trong cộng đồng các dân tộc T, trong đó có thầy giáo Y J như các tác giả sách gỗ đã viết.
Từ nh ng nội dung đã trình bày trên, c n cứ vào các tài liệu lịch sử chính th ng, B2 hẳng định nội dung bài báo “Sửa sách gỗ Bảo tàng Đ:“Lợn què thành lợn gãy chân!” ra ngày 17/11/2019 là hoàn toàn chính xác, có cơ s nên hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là ông Nguyễn Quang T trình bày: Ông là tác giả của bài báo: “Sửa sách gỗ Bảo tàng Đ:“Lợn què thành lợn gãy chân!”đ ng trên B2 online ngày 17/11/2019. Ông hoàn toàn th ng nhất với lời trình bày của bị đơn. Ông hẳng định các bài báo của ông là nh ng góp ý có giá trị thực tiễn, nội dung bài báo đã được đơn vị quản lý nhà nước cao nhất t i địa phương tiếp thu, chỉ đ o cơ quan trực thuộc tổ chức chỉnh sửa và cám ơn báo chí đã phát hiện, phản ánh. Do đó, nh ng nội dung ông trình bày trong bài viết là có cơ s hoa học, chính đáng, rõ ràng. Nên yêu cầu h i iện của nguyên đơn là hông có cơ s .
- T i phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn trình bày: Gi nguyên yêu cầu h i iện về việc buộc Báo NLĐ gỡ bài báo có tựa đề: “Sửa sách gỗ Bảo tàng Đ: “ Lợn què thành lợn gãy chân!”đ ng trên B2 online ngày 17/11/2019; Xin lỗi công hai trên Báo NLĐ theo Luật Báo chí n m 2016; thay đổi một phần yêu cầu h i iện về bồi thường tổn thất về tinh thần là 200.000.000 đồng, bồi thường thiệt h i về thu nhập bị mất 200.000.000 đồng và chi phí đi l i là 100.000.000 đồng; rút một phần yêu cầu h i iện về buộc Báo NLĐ có công v n xin lỗi đồng tác giả bài viết.
- Đ i diện bị đơn và ông T vắng mặt.
T i Bản án dân sự sơ thẩm s : 08/2023/DS-ST ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành ph Hồ Chí Minh đã quyết định:
1/Chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của ông Võ V n H và bà B Krông Thị Tuyết N về việc buộc B1 gỡ bài báo có tựa đề: “Sửa sách gỗ ở Bảo tàng Đ:“Lợn què thành lợn gãy chân!”đ ng trên B1 online ngày 17/11/2019; xin lỗi công khai trên B1 theo Luật Báo chí n m 2016 và bồi thường thiệt h i về tinh thần cho ông H và bà N mỗi người 14.900.000 đồng. Tổng cộng là 29.800.000 đồng.
2/Không chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của ông Võ V n H và bà B Krông Thị Tuyết N về việc buộc B1 bồi thường tổn thất về tinh thần s tiền 170.200.000 đồng, tổn thất về inh tế thu nhập là 200.000.000 đồng và chi phí đi l i là 100.000.000 đồng.
3/Đình chỉ một phần yêu cầu h i iện của ông Võ V n H và bà Buôn Krông Thị Tuyết N về việc buộc B1 phải có công v n xin lỗi đồng tác giả bài viết.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền háng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.
Ngày 19/6/2023, bị đơn là B2 có đơn háng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 22/6/2023, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là ông Nguyễn Quang T có đơn háng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
T i phiên tòa phúc thẩm:
- Các đương sự hông thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết v án.
- Ông Võ V n H là nguyên đơn đồng thời là người đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà N trình bày: Nguyên đơn hông đồng ý với toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan. Lý do, inh phí để ông bỏ ra viết cu n sách trên là của cá nhân và nội cu n sách đã được Hội đồng thẩm định có giá trị v n hóa, lịch sử, hoa học, mỹ thuật. Do đó, bài báo nêu trên có nội dung cho rằng cu n sách nêu trên t n ém, ít giá trị hoa học là xúc ph m danh dự của ông và bà N. Bản án dân sự sơ thẩm đã tuyên đúng quy định pháp luật nên đề nghị cấp phúc thẩm gi nguyên bản án sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Trường H1 là người đ i diện theo ủy quyền của bị đơn B2 nộp bổ sung tài liệu là Công v n s : 2620/SVHTTDL -QLDSVH ngày 27/11/2019 của S V n hóa , Thể thao và Du lịch tỉnh Đ (sau đây viết tắt là S VH, TT, DL tỉnh Đ) tỉnh đồng thời trình bày: Bị đơn gi nguyên yêu cầu háng cáo t i đơn háng cáo ngày 19/6/2023, lý do cấp sơ thẩm tuyên bản án hông hách quan, hông đúng bản chất sự việc. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
C n cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án cũng như diễn biến t i phiên tòa phúc thẩm, nhận thấy: Yêu cầu h i iện của nguyên đơn là hông có cơ s , háng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là hoàn toàn có c n cứ, đúng quy định Luật Báo chí.
Bản án dân sự sơ thẩm xác định bài báo: “Sửa sách gỗ ở B tỉnh Đắk Lắk: Lợn què thành lợn gãy chân!” trên báo B2 online ngày 17/11/2019 sai sự thật là chưa chính xác, chưa phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án. C thể: Qua tra cứu từ điển tiếng Việt do Giáo sư H2 chủ biên, Nhà xuất bản H3, Hà Nội. 2016, t i trang 195 định nghĩa (nguyên v n) “Chí sĩ: Người trí thức, thường là nhà nho, có chí hí, quyết tâm đấu tranh vì chính nghĩa”. Như vậy, từ điển tiếng Việt mà Tòa án cấp sơ thẩm trích dẫn, từ “chí sĩ” là chưa đầy đủ, thiếu ít nhất 02 c m từ hết sức quan trọng, c thể: Chí sĩ trước hết phải là “người trí thức” và sau n a, chí sĩ “thường là nhà nho”. Như vậy, một người được gọi là “Chí sĩ” phải đáp ứng đầy đủ các điều iện cần và đủ: Là “Trí thức”, “nhà N1”, “có chí hí”, “quyết tâm đấu tranh vì chính nghĩa”.
T i phiên tòa, nguyên đơn hông trả lời được các câu hỏi đặt ra: Nh ng ai là trí thức, đồng thời có thể là nhà nho, có chí hí, có quyết tâm đấu tranh vì chính nghĩa, từng bị giam cầm t i nhà tù/đày Buôn Ma T1 đầu n m 1925 đã có ảnh hư ng đến nhà giáo Y J và ho t động cách m ng của ông.
Từ nh ng cứ liệu lịch sử đã viện dẫn, bị đơn hẳng định, nội dung: Đầu n m 1925, hông có sự việc đồng bào các dân tộc T, trong đó có thầy giáo Y J đứng lên ch ng thực dân Pháp là nhờ sự ảnh hư ng b i các các “chí sĩ yêu nước” bị giam cầm t i nhà tù B4. B i lẽ, vào thời điểm đó, hông có “Chí sĩ yêu nước” nào bị giam cầm t i nhà T (thuộc quyền quản lý của chính quyền tỉnh Đắ Lắ ) như nội dung sách gỗ của ông Võ V n H thể hiện.
Về thông tin nhà tù/nhà đày/nhà lao Buôn Ma T1 được hình thành và sự hác nhau nhà lao được xây dựng n m 1900 và nhà tù/đày/lao xây dựng giai đo n 1930-1931:
T i Công v n s : 292/SVHTTDL-QLDSVH ngày 14/02/2020, S VH, TT, DL tỉnh Đ trả lời v n bản của ông Võ V n H đã xác định: nhà lao xây dựng n m 1900, còn nhà tù, nhà đày xây dựng và hoàn thiện vào n m 1931. Nhà lao nh t tù thường ph m địa phương và nh ng người “can tội” ch ng cuộc xâm chiếm của chế độ thực dân; còn nhà đày, nhà tù là nh t các tù chính trị, trong đó có chiến sĩ cộng sản và xây dựng sau đó rất lâu. Như vậy sự hác nhau gi a nhà lao và nhà đày đã quá rõ ràng. Bài báo viết là hoàn toàn phù hợp với giải thích của cơ quan chức n ng t i Công v n s : 292/SVHTTDL-QLDSVH.
Sau hi báo đ ng bài, theo công v n s : 2620/SVHTTDL-QLDSVH S VH, TT, DL tỉnh Đ đã đánh giá cao bài viết và cảm ơn sự đóng góp chính xác về lịch sử.
Việc bản án sơ thẩm cho rằng bài báo đ ng sai sự thật, xúc ph m danh dự nhân phẩm ông H, bà N vi ph m Luật Báo chí là ết luận chưa phù hợp với các cứ liệu lịch sử, tài liệu v án vì hi thực hiện việc viết bài, xuất bản, báo B2 và tác giả Nguyễn Quang T đã c n cứ vào các tài liệu lịch sử chính th ng, được so n thảo, phát hành b i các cơ quan có thẩm quyền.
Từ nh ng c n cứ đã trình bày trên, ính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp d ng hoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật T t ng dân sự n m 2015, chấp nhận toàn bộ yêu cầu háng cáo của bị đơn; sửa bản án sơ thẩm theo hướng hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn.
- Ông T là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan trình bày: Ông gi nguyên ý iến t i đơn háng cáo ngày 22/6/2023, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn, lý do háng cáo: Cu n sách gỗ nêu trên của nguyên đơn t n ém cho chính tác giả và nh ng người bỏ thời gian, công sức để đi xem cu n sách gỗ Bảo tàng tỉnh. Theo ông tìm hiểu thì n m 1925 hông thể có chiến sĩ cộng sản T vì thời điểm đó chưa thành lập Đ2. Về nội dung trình bày liên quan đến chí sĩ yêu nước, nhà tù Buôn Ma T1, ông T th ng nhất và hoàn toàn đồng ý với ý iến của bị đơn.
-Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành ph Hồ Chí Minh phát biểu, đề nghị:
Về t t ng: Từ hi th lý v án cho đến hi có quyết định đưa v án ra xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và t i phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự Bộ luật T t ng dân sự n m 2015. T i phiên tòa các đương sự chấp hành đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung: C n cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án và lời hai của các đương sự t i phiên tòa phúc thẩm cho thấy bài viết: “Sửa sách gỗ ở B Đắk Lắk: Lợn què thành lợn gãy chân!” đ ng tải trên B2 online ngày 17/11/2019 của tác giả Nguyễn Quang T là thông tin sai sự thật, h thấp danh dự của cá nhân ông Võ V n H và bà Buôn Krông Thị Tuyết N thuộc trường hợp nghiêm cấm quy định t i hoản 8 Điều 9 Luật Báo chí n m 2016. Do vậy cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của nguyên đơn là có c n cứ.
Xét, yêu cầu háng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là hông có cơ s nên đề nghị Hội đồng xét xử c n cứ vào hoản 1 Điều 308 Bộ luật T t ng dân sự n m 2015 gi nguyên Bản án dân sự sơ thẩm s : 08/2023/DS-ST ngày 25/5/2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành ph Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án được thẩm tra t i phiên tòa và c n cứ vào ết quả tranh t ng, tranh luận t i phiên tòa, ý iến phát biểu của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hình thức và thời h n háng cáo:
Ngày 19/6/2023, bị đơn B2 và ngày 22/6/2023, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông Nguyễn Quang T háng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm. C n cứ theo quy định t i hoản 1 Điều 273 của Bộ luật T t ng dân sự 2015 thì đơn háng cáo của các đương sự nộp còn trong h n luật định nên hợp lệ.
Về sự vắng mặt của đương sự hi tuyên án: T i phiên tòa ngày 25/12/2023, Hội đồng xét xử đã thông báo cho nh ng người tham gia t t ng biết sẽ tuyên án vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 29/12/2023 t i tr s Tòa án nhân dân Thành ph Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, đúng 8 giờ 00 phút ngày 29/12/2023, chỉ có mặt ông H là nguyên đơn đồng thời là người đ i diện theo ủy quyền của bà N, riêng ông H1 là người đ i diện theo ủy quyền của bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, ông T là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt. C n cứ vào Điều 264 của Bộ luật T t ng dân sự n m 2015, Hội đồng xét xử tiến hành việc tuyên án theo quy định t i Điều 267 của Bộ luật T t ng dân sự n m 2015.
Về nội dung:
Ngày 17/11/2019 B2 đã đ ng bài viết của tác giả Nguyễn Quang T tựa đề: “Sửa sách gỗ ở B Đắk Lắk: Lợn què thành lợn gãy chân!” có nội dung: “Trên Báo Người lao động, số ra ngày 2-3-2018, trong bài “Phát hiện chi tiết sai ở bảo tàng lớn nhất T", chúng tôi đã nêu một số chi tiết vô lý trong cuốn sách dày 12 trang, được làm từ gỗ quý, khổ lớn (50x70cm), khắc 4 ngôn ngữ Ê Đê, V, A, Pháp, trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk”. Đây là công trình tốn kém nhưng ít có giá trị khoa học của bà Tuyết Nhung Buôn K (TS, giảng viên trường T2 và ông Võ Văn H).
Chúng tôi đã chỉ ra chỗ sai: Đảng Cộng sản Đ6 thành lập ngày 3-2- 1930 thì đầu năm 1925, các “chiến sỹ cộng sản” chưa thể có để bị đày lên đây. Cũng như vậy, khoảng đầu năm 1925, tại địa phương này, nhà T chưa được xây dựng. Do đó, nó không thể là nơi giam cầm các “chiến sĩ cộng sản” như đã nêu.
Sau bài viết của chúng tôi, gần đây, bảo tàng tỉnh Đắk Lắk đã yêu cầu các tác giả sách gỗ sửa sai, bằng cách thay cụm từ “chiến sỹ cộng sản” bằng “chí sĩ yêu nước”.
Nhìn thoảng qua, tưởng là ổn nhưng thực ra cách “chữa cháy” này vẫn không thể cứu vãn được nội dung cuốn sách.
Nhận xét:
Thứ nhất, các tài liệu liên quan hiện không cho thấy có “chí sĩ yêu nước” nào bị giam ở nơi này vào thời điểm đầu năm 1925. Do đó, họ không thể có tác động, hay làm hay đổi ông Y J như sách gỗ viết.
Thứ hai, giả sử có “chí sĩ yêu nước” nào đó bị giam ở nơi này vào thời điểm đầu năm 1925, thì trên thực tế cũng rất khó…xảy ra, vì nhà tù Buôn Ma T1 đến đầu năm 1930 mới bắt đầu được xây dựng:
Như vậy, với cách làm nửa vời trên, bảo tàng Đ đang sửa lợn què thành lợn … gãy chân!”
Xét thấy: C n cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án cũng như trình bày của các đương sự thì thì tác phẩm cu n sách gỗ: “Thầy giáo Y Jut H (1885-1934)- người con ưu tú của T” của hai tác giả Võ V n H và Buôn Krông Thị Tuyết N được thực hiện bằng 04 thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ê đê và được trưng bày, giới thiệu t i Bảo tàng tỉnh Đ từ n m 2015 đến n m 2018.
Xét, về nội dung cu n sách gỗ nêu trên, theo biên bản về việc thẩm định cu n sách gỗ về thầy giáo Y –Jut H’wing ngày 27/10/2015 của Trung tâm K2 sư ph m Trường Đ i học T2: “nội dung sách: Do TS. Buôn Krông Tuyết N và Nghệ nhân Võ V n H biên so n phù hợp với thân thế và sự nghiệp của thầy giáo Y H’wing…”
N m 2019, sau hi được Bảo tàng tỉnh góp ý, ông H đã chỉnh sửa, thay thế c m từ “chiến sĩ cộng sản” bằng từ “chí sĩ yêu nước” trong cu n sách nêu trên thì ngày 01/02/2019, UBND tỉnh Đ đã ban hành Quyết định s 275/QĐ –UBND về việc thành lập Hội đồng thẩm định mua hiện vật trưng bày t i Bảo tảng tỉnh, trong đó có cu n sách gỗ nêu trên. Theo biên bản họp Hội đồng thẩm định mua hiện vật ngày 28/5/2019, tỷ lệ s người đồng ý mua cu n sách trưng bày t i Bảo tàng đ t 91,66% là đã đ t tỷ lệ. Ngày 06/8/2019, UBND tỉnh Đ ra quyết định s : 2192/QĐ-UBND phê duyệt và mua cu n sách trên làm hiện vật để trưng bày t i Bảo tàng. Như vậy, cu n sách gỗ nêu trên là hiện vật trưng bày t i bảo tàng là đã hẳng định giá trị v n hóa, lịch sử, hoa học, mỹ thuật. Cu n sách gỗ nêu trên được t o ra từ nguồn inh phí của chính 02 tác giả.
T i phiên tòa phúc thẩm, ông T trình bày và lý giải cu n sách gỗ nêu trên t n ém tiền của chính tác giả và nh ng người đi xem trưng bày cu n sách t i bảo tàng cũng như cu n sách này là công trình ít có giá trị hoa học là hông có c n cứ.
Đ i với công v n s : 2620/SVHTTDL-QLDSVH ngày 27/11/2019 của S VH, TT, DL tỉnh Đ mà bị đơn nộp bổ sung cấp phúc thẩm chỉ là có nội dung: S VH, TT, DL xin tiếp thu và chỉ đ o Bảo tàng tỉnh Đ xem xét, đề nghị nghệ nhân Võ V n H tiếp t c ph i hợp với các bên liên quan, chỉnh sửa hoàn thiện nội dung cu n sách gỗ.
Như vậy, đến thời điểm xét xử phúc thẩm v án, chưa có một quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hủy bỏ ết quả của hội đồng đã thẩm định cũng như hông có v n bản của cơ quan có thẩm quyền xác định nội dung cu n sách gỗ của ông H là hông đúng.
Như vậy, bài báo:“Sửa sách gỗ ở Bảo tàng Đ:“Lợn què thành lợn gãy chân!”đ ng trên báo B2 online ngày 17/11/2019 là thông tin sai sự thật, xúc ph m danh dự, nhân phẩm của cá nhân ông H và bà N thuộc trường hợp nghiêm cấm quy định t i hoản 8 Điều 9 của Luật Báo chí n m 2016.
C n cứ Điều 42 Luật Báo chí n m 2016, Điều 592 của Bộ luật Dân sự n m 2015, Nghị định s : 38/2019/NĐ-CP ngày 09/5/2019 của Chính phủ quy định mức lương cơ s đ i với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của ông H và bà N yêu cầu B2 gỡ bài báo có tựa đề: “Sửa sách gỗ ở B Đắk Lắk: Lợn què thành lợn gãy chân!” đ ng trên B2 online ngày 17/11/2019, xin lỗi công hai trên Báo NLĐ theo Luật Báo chí n m 2016 và bồi thường thiệt h i tổn thất về tinh thần tương đương 10 tháng lương cơ s do nhà nước quy định là phù hợp.
Từ nh ng phân tích và c n cứ pháp luật nêu trên, xét háng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan cũng như đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng hông chấp nhận toàn bộ của yêu cầu h i iện của nguyên đơn là hông có cơ s . C n cứ vào hoản 1 Điều 308 Bộ luật T t ng dân sự n m 2015, Hội đồng xét xử gi nguyên Bản án dân sự sơ thẩm s : 08/2023/DS-ST ngày 25 tháng 5 n m 2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành ph Hồ Chí Minh theo đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân Thành ph Hồ Chí Minh.
-Về án phí dân sự phúc thẩm:
B2 phải nộp 300.000 đồng (ba tr m ngàn đồng), được cấn trừ vào s tiền t m ứng án phí 300.000 đồng (ba tr m ngàn đồng), theo biên lai thu tiền t m ứng án phí, lệ phí Tòa án s : AA/2022/0000625 ngày 26/6/2023 của Chi c c Thi hành án Dân sự Quận 3.
Ông Nguyễn Quang T phải nộp 300.000 đồng (ba tr m ngàn đồng), được cấn trừ vào s tiền t m ứng án phí 300.000 đồng (ba tr m ngàn đồng), theo biên lai thu tiền t m ứng án phí, lệ phí Tòa án s : AA/2022/0000716 ngày 05/7/2023 của Chi c c Thi hành án Dân sự Quận 3.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
C n cứ vào hoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật T t ng dân sự n m 2015; c n cứ Điều 357, Điều 468, Điều 592 của Bộ luật Dân sự n m 2015; c n cứ Điều 9, Điều 42 của Luật Báo chí n m 2016; C n cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự n m 2008 sửa đổi, bổ sung n m 2014; c n cứ Nghị định s : 38/2019/NĐ-CP ngày 09/5/2019 của Chính phủ quy định quy định mức lương cơ s đ i với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; c n cứ Nghị quyết s : 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Qu c hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn B1 và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông Nguyễn Quang T.
2.Gi nguyên Bản án dân sự sơ thẩm s : 08/2023/DS-ST ngày 25 tháng 5 n m 2023 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành ph Hồ Chí Minh.
2.1.Chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của nguyên đơn ông Võ V n H và bà Buôn Krông Thị Tuyết N:
- Buộc B1 gỡ bài báo có tựa đề: “Sửa sách gỗ ở Bảo tàng Đ:“Lợn què thành lợn gãy chân!”đ ng trên B1 điện tử ngày 17/11/2019;
- Buộc B1 xin lỗi công hai ông Võ V n H và bà Buôn Krông Thị Tuyết N trên B1 theo Luật Báo chí n m 2016.
- Buộc B1 bồi thường thiệt h i về tinh thần cho ông Võ V n H và bà B Krông Thị Tuyết N mỗi người s tiền là 14.900.000 đồng (mười b n triệu chín tr m ngàn đồng). Tổng cộng là 29.800.000 đồng (hai mươi chín triệu tám tr m ngàn đồng).
2.2.Không chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của ông Võ V n H và bà B Krông Thị Tuyết N về việc buộc B1 bồi thường tổn thất về tinh thần s tiền 170.200.000 đồng, thiệt h i thu nhập thực tế bị mất là 200.000.000 đồng và chi phí đi l i là 100.000.000 đồng.
2.3.Đình chỉ một phần yêu cầu h i iện của ông Võ V n H và bà Buôn Krông Thị Tuyết N về việc buộc B1 phải có công v n xin lỗi đồng tác giả bài viết.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đ i với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đ i với các hoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến hi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của s tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự n m 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định hác.
3.Về án phí dân sự:
3.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Võ V n H và bà Buôn Krông Thị Tuyết N được miễn án phí.
- B1 phải nộp s tiền án phí là: 1.490.000 đồng (một triệu b n tr m chín mươi ngàn đồng).
3.2. n phí dân sự phúc thẩm:
- B1 phải nộp 300.000 đồng (ba tr m ngàn đồng), được cấn trừ vào s tiền t m ứng án phí 300.000 đồng (ba tr m ngàn đồng) theo biên lai thu tiền t m ứng án phí, lệ phí Tòa án s : AA/2022/0000625 ngày 26/6/2023 của Chi c c Thi hành án Dân sự Quận 3, Thành ph Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Quang T phải nộp 300.000 đồng (ba tr m ngàn đồng), được cấn trừ vào s tiền t m ứng án phí 300.000 đồng (ba tr m ngàn đồng) theo biên lai thu tiền t m ứng án phí, lệ phí Tòa án s : AA/2022/0000716 ngày 05/7/2023 của Chi c c Thi hành án Dân sự Quận 3, Thành ph Hồ Chí Minh.
Thi hành t i Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung n m 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao t i TP.HCM; - VKSND Cấp cao t i TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - TAND Quận 3; - C c THADS TP.HCM; - Chi c c THADS Quận 3; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Hương |