vanban.org

Bản án 1271/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Võ Thị Kim Kh đối với bị đơn là ông Nguyễn Tôn H:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kim Kh được ly hôn với ông Nguyễn Tôn H. Giấy chứng nhận kết hôn số 93/2015, đăng ký kết hôn giữa bà Võ Thị Kim Kh và ông Nguyễn Tôn H tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/4/2015 không còn hiệu lực khi bản án này có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kim Kh, Bị đơn: Ông Nguyễn Tôn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Võ Thị Kim Kh đối với bị đơn là ông Nguyễn Tôn H:
  • Căn cứ chính? Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Luật Tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC B
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1271/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26/9/2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC B - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

2. Ông Phạm Văn Chính.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Kim Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh – cơ sở 1 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2025/TLST – HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 259/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 326/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kim Kh, sinh ngày 12/9/1976 (có mặt).

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 11/8/2021.

Nơi thường trú: ấp T, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tôn H, sinh ngày 08/6/1973 (vắng mặt).

Chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx, cấp ngày 25/8/1997.

Nơi thường trú: ấp T, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở hiện tại: 34/1C, đường P, ấp T, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/02/2025, bản tự khai ngày 14/3/2025 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Võ Thị Kim Kh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2015 bà và ông Nguyễn Tôn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn (theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 93/2015 ngày 21/4/2015). Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau về lối sống, không có tình yêu, vì vậy mặc dù sống chung cùng nhà nhưng từ lúc sinh cháu Nguyễn Khánh M năm 2018 mạnh ai người đó sống, không quan tâm, chăm sóc nhau; cách nay vài tháng ông H chuyển về 34/1C, đường P, ấp T, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Nay bà nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nghiêm trọng không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Võ Nhật Q, sinh ngày 08/7/2016 và Nguyễn Khánh M, sinh ngày 05/02/2018. Bà Kh yêu cầu được nuôi dưỡng 02 cháu Nhật Q và Khánh M cho đến khi các cháu lần lượt đủ 18 tuổi, bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn là ông Nguyễn Tôn H đã được Tòa án nhân dân khu vực B – Thành phố Hồ Chí Minh (Tòa án nhân dân huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh cũ) triệu tập và tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng không có ý kiến đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn là bà Võ Thị Kim Kh giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn là ông Nguyễn Tôn H đã được Tòa án nhân dân khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đã thực hiện đúng theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

- Quan điểm giải quyết vụ án: Việc bà Võ Thị Kim Kh yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tôn H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bởi mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn; về con chung: giao cháu Nguyễn Võ Nhật Q, sinh ngày 08/7/2016 và Nguyễn Khánh M, sinh ngày 05/02/2018 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét; về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực B – Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Võ Thị Kim Kh có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Nguyễn Tôn H. Ông H cư trú tại 34/1C, đường P, ấp T, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh và quan hệ tranh chấp là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội.

. Về tố tụng: Bị đơn là ông Nguyễn Tôn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kim Kh và ông Nguyễn Tôn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 93/2015 ngày 21/4/2015) nên có đủ căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Kh và ông H là hợp pháp, quyền lợi của các bên được pháp luật bảo vệ.

. Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là bà Võ Thị Kim Kh, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo lời khai của bà Kh thì sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau về lối sống, không có tình yêu, ông H không lo cho vợ con, vì vậy mặc dù sống chung cùng nhà nhưng từ năm 2018 thì mạnh ai người đó sống, không quan tâm, chăm sóc nhau, do mâu thuẫn nên hai vợ chồng đã sống ly thân được mấy tháng.

. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã nhiều lần giải thích, động viên bà Kh đoàn tụ gia đình, vợ chồng cho nhau cơ hội để hàn gắn, xây dựng hạnh phúc gia đình cùng nhau nuôi dạy con nên người nhưng bà Kh cho rằng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, bà nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng nghiêm trọng không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.

. Về phần ông H, mặc dù đã được Tòa án nhân dân khu vực B – Thành phố Hồ Chí Minh (Tòa án nhân dân huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh cũ) tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông H không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Kh, không cung cấp tài liệu, chứng cứ đồng thời vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do. Trong suốt thời gian vợ chồng sống ly thân cũng như thời gian bà Kh nộp đơn yêu cầu ly hôn, ông H cũng không có bất cứ động thái nào để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, xây dựng hạnh phúc gia đình. Điều này chứng tỏ ông H cũng không còn mong muốn níu kéo cuộc hôn nhân này để vợ chồng cùng vun đắp, xây dựng hạnh phúc gia đình.

. Nhận thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi xuất phát từ tình thương yêu giữa hai vợ chồng, có sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Tuy nhiên, trong thời gian sống chung, ông H, bà Kh bất đồng quan điểm dẫn đến nảy sinh mâu thuẫn, mặc dù sống chung cùng nhà nhưng mạnh ai nấy sống; do mâu thuẫn mà ông H, bà Kh đã sống ly thân; giữa bà Kh và ông H không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc đến nhau, mỗi người đều chỉ lo cuộc sống riêng của mình. Như vậy, bà Kh, ông H đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Xét mâu thuẫn chung giữa bà Kh và ông H đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Kh yêu cầu ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở để chấp nhận.

. Về con chung: Bà Võ Thị Kim Kh và ông Nguyễn Tôn H có 02 con chung tên Nguyễn Võ Nhật Q, sinh ngày 08/7/2016 và Nguyễn Khánh M, sinh ngày 05/02/2018.

. Xét yêu cầu của bà Kh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhật Q và Khánh M: Theo lời khai của bà Kh thì trong thời gian hai vợ chồng sống ly thân, bà là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nhật Q và Khánh M; bản thân cháu Nhật Q cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ, do đó để bảo đảm về điều kiện nuôi dưỡng, sự phát triển bình thường về tâm sinh lý và quyền lợi của cháu Nhật Q và Khánh M, Hội đồng xét xử xét yêu cầu của bà Kh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nhật Q và Khánh M là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

. Do bà Kh chưa có yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Vì vậy, bà Kh, ông H phải tạo điều kiện cho nhau thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

. Về tài sản chung: Bà Võ Thị Kim Kh xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về nợ chung: Bà Võ Thị Kim Kh xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà Võ Thị Kim Kh là người nộp đơn yêu cầu ly hôn đối với ông Nguyễn Tôn H nên bà Kh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.

. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội;

- Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

- Căn cứ vào các điều 2, 6, 7, 7a, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Võ Thị Kim Kh đối với bị đơn là ông Nguyễn Tôn H:

2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kim Kh được ly hôn với ông Nguyễn Tôn H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 93/2015, đăng ký kết hôn giữa bà Võ Thị Kim Kh và ông Nguyễn Tôn H tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/4/2015 không còn hiệu lực khi bản án này có hiệu lực pháp luật.

3. Về con chung: Bà Võ Thị Kim Kh và ông Nguyễn Tôn H có 02 con chung tên Nguyễn Võ Nhật Q, sinh ngày 08/7/2016 và Nguyễn Khánh M, sinh ngày 05/02/2018.

Giao cháu Nguyễn Võ Nhật Q và cháu Nguyễn Khánh M cho bà Võ Thị Kim Kh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu lần lượt đủ 18 tuổi, ông H tạm thời chưa phải cấp dưỡng nuôi con do bà Kh chưa có yêu cầu.

Ông Nguyễn Tôn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

4. Về tài sản chung: Bà Võ Thị Kim Kh xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về nợ chung: Bà Võ Thị Kim Kh xác nhận không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Kim Kh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số BLTU/24P/0081558 ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H1, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực B - Thành phố Hồ Chí Minh); bà Võ Thị Kim Kh đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

7. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

8. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ