- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đ vi phạm giao thông - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-GIA LAI TỈNH GIA LAI Bản án số:127/2026/HSST Ngày: 30/7/2026 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-GIA LAI, TỈNH GIA LAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Hoàng
2. Ông Trần Văn Tư
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7-Gia Lai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7-Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 114/2026/TLST- HS ngày 13 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2026/QĐXXST-HS, ngày 17/7/2026 đối với bị cáo sau:
Đ. Tên gọi khác: Không.
Giới tính: Nam. Sinh ngày 04/10/2000, tại Gia Lai.
Nơi cư trú: Làng E, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Xơ Đăng; Tôn giáo: Công giáo.
Trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do.
Cha: Ksor M, sinh năm 1974.
Mẹ: A P, sinh năm 1976.
Cha và mẹ của bị cáo hiện trú tại làng E, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai.
Bị cáo có 05 chị, em ruột; lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2005. Bị cáo là con thứ ba trong gia đình.
Vợ: A L, sinh năm 2002.
Bị cáo có 01 người con, sinh năm 2020.
Vợ và con của bị cáo hiện trú tại làng E, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai.
Tiền sự: Không. Tiền án: Không.
Bị cáo Đ bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/3/2026 cho đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Trợ giúp viên pháp lý: Bà Nguyễn Hoàng Kim Loan - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị hại: Thế V (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Y (vợ), sinh năm 2002. Địa chỉ: Làng E, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Bùi Thị H, sinh năm 1983. Địa chỉ: Làng Thung, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
+ A L, sinh năm 2002. Địa chỉ: Làng E, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đ là người đã được cấp giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định. Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 02/11/2025, sau khi uống rượu bia và hát Kraroke tại quán Hương B (số 272 đường Tôn Đức Thắng, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai), Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại AirBlade, biển số 81AV-xxx.70 chở Thế V (sinh năm 1997, trú làng E, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai) lưu thông trên đường Tôn Đức Thắng, hướng về ngã tư Biển Hồ, pH1 Thống Nhất, tỉnh Gia Lai (Đ khai không nhớ đi với tốc độ bao nhiêu). Lúc này trời mưa, mặt đường Tôn Đức Thắng ướt, trơn. Cùng lúc này, trên đường Tôn Đức Thắng có xe mô tô biển số 81B2-xxx.76 do bà Bùi Thị H (sinh năm 1983, trú làng Thung, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai) điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều với xe mô tô 81AV-xxx.70 do Đ điều khiển; phía sau yên xe mô tô 81B2-xxx.76 có gắn giá chở hàng bằng kim loại để chở hoa tươi. Khi đi đến đoạn trước nhà số 39 đường Tôn Đức Thắng, pH1 Thống Nhất, tỉnh Gia Lai, Đ điều khiển xe mô tô 81AV-xxx.70 vượt lên bên phải xe mô tô 81B2-xxx.76. Do đã có uống bia, đi với tốc độ nhanh và xử lý kém, nên xe mô tô 81AV-xxx.70 do Đ điều khiển va chạm vào bên phải giá chở hàng bằng kim loại phía sau xe mô tô 81B2-xxx.76 do bà H1 điều khiển, làm hai xe mô tô cùng với bà H1, Đ và Thế V ngã xuống mặt đường. Theo quán tính, xe mô tô 81AV-xxx.70 trượt trên mặt đường thêm một đoạn 52,2 mét mới dừng lại. Thế V và Đ bị thương nặng, được người dân đưa đến Bệnh viện quân y 211 cấp cứu; bà H1 không bị thương tích gì. Sau khi tiếp nhận thông tin về vụ tai nạn, lực lượng Cảnh sát giao thông và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã tổ chức khám nghiệm hiện trường theo quy định; tạm giữ xe mô tô 81AV-xxx.70 và xe mô tô 81B2-xxx.76 để làm rõ, xử lý. Qua kiểm tra, xác định: Đ âm tính với các chất ma túy, có nồng độ cồn trong máu là 138,4mg/dl; Thế V âm tính với các chất ma túy, có nồng độ cồn trong máu là 116.9mg/dl; bà H1 không có nồng độ cồn trong khí thở (Bút lục số: 31-34; 35-55; 56-73; 74-77; 78-114; 115-119; 120-135; 136-141; 142-147; 148-150; 151-167; 168-195; 212-235).
Đối với Thế V, do bị thương tích nặng nên đến ngày 04/11/2025 thì tử vong. Qua giám định, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, kết luận Thế V tử vong là do “chấn thương cột sống, tủy sống cổ” (Bút lục số: 56-58).
Qua khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, xác định:
Điều kiện về thời tiết, khí hậu, ánh sáng: Trời tối ban đêm, thời tiết trời mưa ẩm ướt, ánh sáng đèn điện. Tình trạng hiện trường khi khám nghiệm: Hiện trường bị xáo trộn một phần do đưa người bị tai nạn đi cấp cứu.
Hiện trường xảy ra vụ việc tại số nhà 39 Tôn Đức Thắng, pH1 Thống Nhất, tỉnh Gia Lai. Quan sát hiện trường từ Đông sang Tây ghi nhận: Đường Tôn Đức Thắng là đường nhựa, đoạn đường bằng phẳng, có giải phân cách cứng được chia thành hai chiều xe chạy, làn đường được chia bằng vạch kẻ đường màu trắng, dạng đứt quãng, xung quanh có biển báo hiệu có đèn đường, kích thước chiều rộng làn đường là 8,1m, phần vỉa hè có chiều rộng 03. Tại vị trí xảy ra tại nạn cách tâm đường Ký Con giao nhau với đường Tôn Đức Thắng là 13,5m; cách vị trí biển báo giao nhau với đường không ưu tiên là 55m. Chọn trụ điện số Tổ 07 và 8/10TT làm điểm mốc cố định; chọn mép đường hướng Bắc bên phải của đường Tôn Đức Thắng làm mép đường chuẩn.
Các dấu vết trên hiện trường: Trên mặt đường Tôn Đức Thắng chách trụ điện làm mốc 61 mét phát hiện hai vết cày (đặt số 01) in trên mặt đường có chiều hướng từ sau ra trước, vết có dạng đứt quãng, vết cày 01 có kích thước (52,3x0,05x0,02)m, vết cày 02 có kích thước (49,2x0,03x0,02)m. Khoảng cách giữa hai vết là 0,5m. Khoảng cách từ đầu vết cày 01 cách mép đường chuẩn hướng Bắc là 2,87m, khoảng cách từ cuối vết cày 01 đến mép đường hướng Bắc là 3,6m. Khoảng cách từ đầu vết cày 01 đến tâm trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 81B2-xxx.76 (đặt số 2) là 13m. Xe mô tô biển kiểm soát 81B2-xxx.76 nằm ngã nghiêng bên phải trên làn đường, đầu xe ở hướng Nam, đuôi xe ở hướng Bắc; khoảng cách từ tâm trục bánh sau mô tô biển kiểm soát 81B2-xxx.76 cách mép đường chuẩn hướng Bắc là 4,3m; khoảng cách từ tâm trục bánh trước mô tô biển kiểm soát 81B2-xxx.76 cách mép đướng chuẩn hướng Bắc là 5,5m; khoảng từ tâm trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 81B2-xxx.76 đến tâm trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 81AV-xxx.70 (đặc số 3) là 39,2m. Xung quanh xe mô tô biển kiểm soát 81B2-xxx.76 có nhiều mảnh vỡ và 02 mũ bảo hiểm nằm rải rác trên mặt đường. Xe mô tô biển kiểm soát 81AV-xxx.70 nằm ngã nghiêng bên phải trên làn đường ở hướng Nam, đuôi xe ở hướng Bắc; khoảng cách từ tâm trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 81AV-xxx.70 đến mép đường chuẩn hướng Bắc là 2,9m; khoảng cách từ tâm trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 81AV-xxx.70 cách mép đường chuẩn hướng Bắc là là 4,2m; đo từ trục bánh sau bên trái xe mô tô biển kiểm soát 81AV-xxx.70 đến trụ điện làm mốc cố định là 8,8m. Ngoài các dấu vết trên không phát hiện dấu vết gì khác (Bút lục số: 31-44).
Qua khám nghiệm các dấu vết liên quan đến tai nạn trên xe mô tô biển kiểm soát 81AV-xxx.70, xác định:
Tay phanh bên phải bị trầy xước, mài mòn kim loại trong diện (18x03)cm. Mặt sau gương chiếu hậu bên phải bị trầy xước trong diện (13x6)cm và phần thân kết nối với mặt gương bị trầy xước mài mòn kim loại trong diện (3,5x01)cm. Đầu tay cầm bên phải trầy xước, mài mòn trong diện (2,5x1,5)cm. Yếm bên phải bị trầy xước, mài mòn trong diện (38x29)cm. Mặt nạ phía trước bên trái bị trầy xước, mài mòn trong diện (08x09)cm và bung hở cách yếm bên trái 1,5cm. Phía thân sàn để chân bị trầy xước, mài mòn trong diện (36x05)cm và cách mặt đất 26,5cm. Gác để chân bên trái bị trầy xước, mài mòn trong diện (08x03)cm và cách mặt đất 41cm. Khám kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống lái, đèn, còi, đồng hồ, phanh, ga có hiệu lực (Bút lục số: 120; 121; 129-135).
Qua khám nghiệm các dấu vết liên quan đến tai nạn trên xe mô tô biển kiểm soát 81B2-xxx.76, xác định:
Cần khởi động bị trầy xước kim loại trong diện (0,4x0,3)cm. Để chân trước bên phải bị trầy xước, mài mòn kim loại trong diện (04x03)cm, tâm để chân cách mặt đất 35cm. Đầu tay nấm bên phải bị trầy xước, mài mòn cao su trong diện (03x1,5)cm, tâm cách mặt đất 1,125m. Tay phanh bên trái bị mất phần đầu tròn, trầy xước, mài mòn kim loại trong diện (05x07)cm và cách mặt đất 96,5cm. Ốp mặt nạ trên phía trước bên trái bị bung hở 05cm. Phần ốp mặt nạ phía trước bị trầy xước, mài mòn, nứt mãnh vỡ nhựa trong diện (39x08)cm. Trục bánh trước bị trầy xước, mài mòn kim loại trong diện (1,5x1,5)cm và cách mặt đất 29cm. Đầu dè chắn bùn bị trầy xước, nứt vỡ, mài mòn, vỡ nhựa trong diện (5,5x5,5)cm. Yếm bên trái bị nứt nhựa, gãy khỏi vị trí cố định. Khám kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống lái, đèn, còi, đồng hồ, phanh, ga có hiệu lực (Bút lục số: 96; 97; 99-108).
Qua định giá, xác định xe mô tô biển kiểm soát 81AV-xxx.70 bị hư hỏng, thiệt hại trị giá 899.000 đồng; xe mô tô biển kiểm soát 81B2-xxx.76 hư hỏng, thiệt hại trị giá 888.000 đồng (Bút lục số: 120-128).
Quá trình kiểm tra, xác minh vụ tai nạn, Cơ quan điều tra tiếp nhận 01 giá để hàng làm bằng kim loại, chiều ngang 80cm, chiều dài 01m (do bà Bùi Thị H giao nộp). Ông Trần Thanh T - là quản lý quán Karaoke Hương B cung cấp cho Cơ quan điều tra 01 USB bên trong có chứa 02 đoạn video (có độ dài 01 phút 19 giây và 33 giây) ghi lại diễn biến Đ, Thế V đến quán Hương B và ra về vào lúc 21 giờ 16 phút ngày 02/11/2025. Ông Phạm Minh Đ - là chủ nhà số 39 đường Tôn Đức Thắng cung cấp cho Cơ quan điều tra 01 đĩa DVD nhãn hiệu Maxell màu vàng, dung lượng 4.7GB, bên trong có chứa 02 video (có độ dài 01 phút 53 giây và 10 phút 57 giây) ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông. Ông Lê Đình Hoài T - là cán bộ Bệnh viện Quân y 211 cung cấp cho Cơ quan điều tra 01 đĩa DVD nhãn hiệu Maxell màu vàng, dung lượng 4.7GB, bên trong có chứa 02 Video (có độ dài 06 phút 19 giây và 03 phút 09 giây) ghi lại diễn biến việc bệnh nhân Thế V nhập viện vào Bệnh viện Quân y 211 vào lúc 21 giờ 43 phút ngày 02/11/2025 (Bút lục số: 119; 176-184; 194; 195).
Qua giám định, tại Bản kết luận số 884/KL-KTHS ngày 10/12/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, kết luận:
“- Vết trầy xước mất sơn màu đỏ, xám tại mặt bên trái ốp mặt nạ xe mô tô biển kiểm soát 81AV-xxx.70, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau phù hợp với vết trầy xước kim loại, bám chất màu đỏ, xám tại mặt phía bên phải giá (baga) chở hàng gắn trên yên phía sau xe mô tô biển kiểm soát 81B2-xxx.76, chiều hướng dấu vết từ sau ra trước (vị trí va chạm đầu tiên).
- Dấu vết va chạm trên phù hợp khi xe mô tô biển kiểm soát 81AV-xxx.70 di chuyển va chạm với giá (baga) chở hàng gắn trên yên phải sau xe mô tô biển kiểm soát 81B2-xxx.76 đang chuyển động phía trước cùng chiều” (Bút lục số: 74; 75).
Qua giám định, tại Kết luận giám định số 1746/KL-KTHS ngày 05/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: “Người điều khiển xe mô tô 2 (là xe mô tô biển kiểm soát 81AV-xxx.70) là người mặc trang phục màu đen. Người ngồi sau xe mô tô 2 là người đội mũ bảo hiểm màu trắng, mặc áo dài tay màu xám” (Bút lục số: 115; 116).
Người bị hại: Thế V. Giới tính: Nam. Sinh năm 1997, tại Gia Lai. Nơi cư trú: Làng E, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai. Ngày 02/11/2025, bị tai nạn giao thông; ngày 04/11/2025 tử vong do chấn thương cột sống, tủy sống cổ (Bút lục số: 135-139).
Đối với thương tích của Đ do tai nạn giao thông, qua giám định kết luận Đ bị tổn thương cơ thể 52%. Đối với bà Bùi Thị H, do không bị thương tích gì, nên từ chối giám định tổn thương cơ thể (Bút lục số: 78-81; 222-226).
Đối với các phương tiện, dữ liệu điện tử liên quan đến tai nạn:
- Xe mô tô 81AV-xxx.70 do Đ điều khiển gây tai nạn giao thông là tài sản của chị A L (là vợ của Đ); xe mô tô 81B2-xxx.76 và giá chở hàng là tài sản của bà Bùi Thị H. Sau khi khám nghiệm các dấu vết có liên quan đến tai nạn và định giá thiệt hại, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại các xe mô tô và giá để hàng nêu trên cho chị Lan và bà H1 (Bút lục số: 208-211).
- 01 USB và 02 đĩa DVD lưu trữ dữ liệu điện tử (video) liên quan đến vụ tai nạn giao thông, Cơ quan điều tra lưu vào hồ sơ vụ án (Bút lục số: 119; 176-184; 194; 195).
Về dân sự: Sau khi gây ra tai nạn và quá trình điều tra vụ án, Đ đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Thế V tổng số tiền 80.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại Thế V không có yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự và có đơn bãi nại, đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Đ. Đối với hư hỏng của xe mô tô 81B2-xxx.76, bà Bùi Thị H không yêu cầu bồi thường (Bút lục số: 155; 156; 217; 223; 229).
- Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 –Gia Lai, tỉnh Gia Lai là đúng với hành vi của bị cáo Đ đã thực hiện. Mong hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo với lý do sau: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng khó khăn thuộc hộ cận nghèo việc nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bên cạnh đó bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, gia đình bị hại có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo cũng bị thương nặng kết luật giám định bị tổn thương cơ thể 52%, vợ bị cáo đang mang thai và xin cho bị cáo được miễn chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại bản cáo trạng số 61/ CT-VKSGLI-KV ngày 08/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Gia Lai, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Đ về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Đ phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Đ từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/7/2026).
Giao bị cáo Đ cho Uỷ ban nhân dân xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Bị cáo Đ được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi tố tụng và các quyết định tố tụng trong quá trình điều tra truy tố:
Trong quá trình điều tra truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Gia Lai, tỉnh Gia Lai đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Xét về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đ phạm tội như sau:
Đ là người đã được cấp giấy phép lái xe hạng A1. Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 02/11/2025, sau khi uống rượu bia và hát Karaoke tại quán Hương B (số 272 đường Tôn Đức Thắng, xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai), Đ điều khiển xe mô tô 81AV-xxx.70 chở Thế V lưu thông trên đường Tôn Đức Thắng, hướng về ngã tư Biển Hồ, pH1 Thống Nhất, tỉnh Gia Lai. Khi đi đến đoạn trước nhà số 39 đường Tôn Đức Thắng, xe mô tô 81AV-xxx.70 do Đ điều khiển vượt lên bên phải, va chạm vào bên phải giá chở hàng gắn phía sau yên xe mô tô 81B2-xxx.76, do bà Bùi Thị H điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều, làm 02 xe mô tô cùng với Đ, Thế V và bà H1 ngã xuống đường. Thế V bị thương nặng, đến ngày 04/11/2025 thì tử vong do chấn thương cột sống, tủy sống cổ; Đ bị tổn thương cơ thể 52%; bà H1 không bị thương tích gì. Xe mô tô 81AV-xxx.70 hư hỏng, thiệt hại trị giá 899.000 đồng; xe mô tô 81B2-xxx.76 hư hỏng, thiệt hại trị giá 888.000 đồng. Qua kiểm tra, xác định tại thời điểm gây ra tai nạn giao thông Đ có nồng độ cồn trong máu là 138,4mg/dl.
Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Gia Lai, tỉnh Gia Lai đối với bị cáo Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo là người trưởng thành đã nhận thức được pháp luật nhưng bị cáo đã Đ đã điều khiển xe mô tô tham gia giao thông sau khi đã sử dụng rượu bia (có nồng độ cồn trong máu là 138,4mg/dl); không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn khi có chướng ngại vật trên đường (xe mô tô 81B2-xxx.76) và trong điều kiện trời mưa; vượt xe cùng chiều không đúng quy định và xử lý kém hậu quả làm cho anh Thế V ngồi sau xe bị cáo bị thương nặng dẫn đến tử vong. Do đó hành vi của bị cáo Đ đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo Đ là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm sức khỏe của người khác, an toàn công cộng, trật tự công cộng mà còn gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, cần xử cho bị cáo một mức án nghiêm để bị cáo cải tạo đồng thời bảo đảm được biện pháp giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tính tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự; đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, gia đình bị hại có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo; Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiếu số, bên cạnh đó gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ cận nghèo, bản thân bị cáo cũng bị thương nặng kết luận giám định bị tổn thương cơ thể 52%, bị cáo phải cần người hỗ trợ mới đến tham gia phiên tòa được, vợ bị cáo đang mang thai; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đủ điều kiện được hưởng án treo để bị cáo có thời gian điều trị thương tích và sửa chữa lỗi lầm của mình.
Về bồi thường dân sự: Bị cáo đã bồi thương cho bị hại 80.000.000 đồng. Tại hồ sơ và tại phiên tòa Người đại diện hợp pháp cho bị hại xin cho bị cáo hưởng án treo và không yêu cầu bồi thường thêm.
- Đối với bà Bùi Thị H là người bị xe mô tô của bị cáo Đ tông vào nhưng bà H1 không bị thương tích gì và không yêu cầu gì nên không xét.
Về vật chứng: Không.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo có đơn xin miễn án phí với lý do thuộc hộ cận nghèo và là người đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Đ phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Đ 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/7/2026).
Giao bị cáo Đ cho Uỷ ban nhân dân xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự
- Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đ được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia lai. - Viện kiểm sát khu vực 7-Gia Lai. - Công an tỉnh Gia Lai. -Phòng THADS khu vực 7-Gia Lai. - Bị cáo. - Đại diện cho bị hại. - Người có qlnvlq. - Lưu hs. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Thị Hồng |