vanban.org

Bản án 127/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 13/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo D.X.C phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Điều luật áp dụng và xử phạt: Xử phạt bị cáo D.X.C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 20/10/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cưỡng đoạt tài sản - cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo D.X.C phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2026/HS-ST
Ngày 13-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Long

2. Bà Đỗ Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133/2026/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2026/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:

* D.X.C, sinh năm 1988. Tên gọi khác: không.

Nơi thường trú: Tổ dân phố 17, khu phố 1, phường Chánh Hưng, thành phố H.C.M.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Ngọc Lợi, sinh năm 1965 và bà Du X.L, sinh năm 1969; có vợ là Lê Thị Thu Vân, sinh năm 1991 và 03 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: không;

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01-Công an tỉnh Bắc Ninh - (Có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Anh D.M.H, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Khu phố Hồi Quan, phường Tam Sơn, tỉnh Bắc Ninh

(Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Quách T.H, sinh năm 1992 – Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn Bông Bụt, xã Vân Du, tỉnh Thanh Hóa

+ Anh Phan V.T, sinh năm 1992 – Vắng mặt

Địa chỉ: Ấp Khởi Hà, xã Cầu Khởi, tỉnh Tây Ninh

+ Chị Nguyễn Thị N.M, sinh năm 1974 – Vắng mặt

Địa chỉ: 136/13A Nguyễn Tri Phương, phường An Đông, thành phố H.C.M

+ Chị Nguyễn Thị T.P, sinh năm 1982 - Vắng mặt

Địa chỉ: Số 758/6 Hương Lộ 2, phường Bình Trị Đông, thành phố H.C.M

+ Bà Du X.L, sinh năm 1969 – Vắng mặt

Địa chỉ: Ấp An Quới, phường Thuận An, thành phố H.C.M

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

D.X.C, sinh năm 1988, trú tại: Tổ dân phố 17, khu phố 1, phường Chánh Hưng, thành phố H.C.M sử dụng tài khoản Zalo “Home Life Massage” đăng ký bằng số điện thoại 0703.817.914; tài khoản Zalo “Như Quỳnh” đăng ký bằng số điện thoại 0924.917.506; tài khoản Zalo “Hoa” đăng ký bằng số điện thoại 0767.742.669 và tài khoản Facebook “Kiều Như” mục đích để giới thiệu các nữ nhân viên massage cho người có nhu cầu trên mạng xã hội.

Khoảng 00 giờ, ngày 08/10/2025, anh D.M.H, sinh năm 1985, trú tại: Khu phố Hồi Quan, phường Tam Sơn, tỉnh Bắc Ninh, dùng tài khoản Zalo “D.M.H” đăng ký bằng số điện thoại 0945.684.591 nhắn tin đến tài khoản Zalo “Home Life Massage” hỏi Cường về dịch vụ massage. Cường gửi hình ảnh các nhân viên nữ cho anh Hải lựa chọn và trao đổi dịch vụ. Tuy nhiên, sau khi trao đổi thì anh Hải không yêu cầu nhân viên đến phục vụ nữa và chặn tài khoản Zalo của Cường. Cường vào xem thông tin tài khoản Zalo của anh Hải thì thấy anh Hải có để các số điện thoại ở hình đại diện. Cường vào tài khoản Zalo theo số điện thoại “0988.351.313” thì thấy số điện thoại đăng ký tài khoản Zalo “Dương Quý” là tài khoản Zalo của vợ anh Hải, là chị Dương Thị Quý, sinh năm 1987, trú tại: Khu phố Hồi Quan, phường Tam Sơn, tỉnh Bắc Ninh, có để hình nền là biển hiệu cửa hàng mang tên “Hải Quý, kho sỉ mẹ và bé”. Lúc này, Cường biết gia đình anh Hải làm nghề kinh doanh buôn bán hàng trẻ sơ sinh, do bực tức việc anh Hải không sử dụng dịch vụ massage và bản thân Cường không có tiền chi tiêu cá nhân nên Cường nảy sinh ý định sử dụng thông tin, hình ảnh gia đình anh Hải để đe dọa nhằm chiếm đoạt tiền của anh Hải.

Cường sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu vàng, gắn sim số 0924.917.506 của Cường đăng nhập vào tài khoản Zalo "Như Quỳnh" nhắn tin đến tài khoản Zalo "D.M.H" của anh Hải là Cường sẽ đăng hình ảnh cá nhân và gia đình anh Hải lên mạng xã hội kèm theo nội dung "Thằng này lừa đảo nhé mọi người né nó ra nha. Massage xong quỵt tiền nhé. Sđt nó 0945.684.591 .. 0988.351.313" nhằm mục đích để anh Hải lo sợ mọi người trong gia đình, bạn bè biết và mất uy tín với khách hàng nên sẽ phải chuyển tiền qua tài khoản cho Cường theo yêu cầu. Anh Hải có nhắn tin xin lỗi Cường nhưng Cường không đồng ý. Cường yêu cầu anh Hải phải chuyển số tiền 2.000.000 đồng thì mới bỏ qua cho anh Hải và không đăng hình ảnh cả nhân của anh Hải và gia đình anh Hải lên mạng xã hội. Anh Hải đồng ý. Do cách đây khoảng 02 năm, Cường có quen biết với chị Quách T.H sinh năm 1992, trú tại: thôn Bông Bụt, xã Vân Du, tỉnh Thanh Hóa qua mạng xã hội từ trước nên Cường liên hệ với chị Hương và nói "Có ai chuyển 2 triệu đến số tài khoản của em thì chuyển lại vào số tài khoản của anh nhé". Chị Hương đồng ý. Cường gửi số tài khoản "105002345367" Ngân hàng Vietinbank mang tên D.X.C cho Hương để sau khi Hương nhận tiền thì chuyển lại cho Cường. Sau đó, Cường gửi cho anh Hải số tài khoản "5730291147" Ngân hàng BIDV mang tên QUÁCH T.H và yêu cầu anh Hải chuyển số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản đó. Khoảng 01 giờ 32 phút cùng ngày, anh Hải chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng vào số tài khoản của Hương theo yêu cầu, sau đó Hương đã chuyển lại cho Cường số tiền 2.000.000 đồng vào số tài khoản của Cường.

Thấy anh Hải đã chuyển tiền cho Cường theo yêu cầu nên Cường nghĩ rằng anh Hải rất lo sợ việc Cường đăng thông tin anh Hải lên mạng xã hội. Cường tiếp tục vào tài khoản Zalo "Như Quỳnh" nhắn tin cho anh Hải yêu cầu anh Hải tiếp tục chuyển tiền cho Cường nếu không sẽ đăng thông tin và hình ảnh gia đình của anh Hải lên mạng xã hội nhưng không thấy anh Hải trả lời tin nhắn. Ngày 11/10/2025, Cường sử dụng tài khoản Zalo "Như Quỳnh" nhắn tin đến tài khoản Zalo "Dương Quý" của chị Quý với nội dung "Chồng em đi Massage xong quỵt tiền", kèm theo ảnh chụp màn hình tin nhắn giữa Cường với anh Hải gọi nhân viên massage đến khách sạn phục vụ. Sau đó, Cường chụp màn hình nội dung Cường nhắn tin với tài khoản "Dương Quý" rồi gửi đến tài khoản Zalo của anh Hải để cho anh Hải biết Cường đã nhắn cho vợ anh Hải biết. Khoảng 12 giờ 56 phút, ngày 13/10/2025, do lo sợ nên anh Hải tiếp tục chuyển 3.600.000 đồng đến số tài khoản của Quách T.H theo yêu cầu của Cường. Sau đó, chị Hương tiếp tục chuyển lại cho Cường số tiền 3.600.000 đồng.

Sau khi nhận được tiền của anh Hải, Cường tiếp tục vào tài khoản Zalo "Như Quỳnh" nhắn tin cho anh Hải với nội dung cần chi tiền cho bên admin để admin gỡ bài hình ảnh anh Hải trên mạng xã hội Facebook. Anh Hải có nhắn tin xin Cường gỡ bài. Sau đó, Cường sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xám, gắn sim số 0767.742.669 của Cường đăng nhập vào tài khoản Zalo "Hoa" và nhắn tin đến tài khoản Zalo "D.M.H" giới thiệu là admin của trang mạng xã hội và hỏi anh Hải "Có muốn xóa bài không". Anh Hải trả lời "Có". Cường nhắn cho anh Hải nếu muốn gỡ bài thì phải trả tiền thì anh Hải đồng ý. Sau đó, Cường đăng nhập vào tài khoản Zalo "Như Quỳnh" và nhắn tin lại cho anh Hải nói rằng bên admin yêu cầu phí gỡ bài là 3.000.000 đồng. Anh Hải đồng ý và xin được chuyển khoản sau vì anh Hải không có tiền. Đến ngày 15/10/2025, không thấy anh Hải chuyển khoản cho Cường số tiền 3.000.000 đồng nên Cường dùng tài khoản Zalo "Như Quỳnh" nhắn tin cho anh Hải "Nếu anh không có khả năng để em nhắn vợ anh nha" với mục đích tiếp tục đe dọa anh Hải. Khoảng 18 giờ 32 phút, ngày 16/10/2025, do lo sợ việc Cường sẽ nhắn tin cho chị Quý là vợ anh Hải nên anh Hải tiếp tục chuyển số tiền 3.000.000 đồng đến số tài khoản của Quách T.H theo yêu cầu của Cường. Sau đó, Hương chuyển lại cho Cường số tiền trên. Tổng số tiền sau ba lần Cường chiếm đoạt được của anh Hải là 8.600.000 đồng. Số tiền này Cường đã chuyển khoản cho Phan V.T, sinh năm 1992, trú tại: Ấp Khởi Hà, xã Cầu Khởi, tỉnh Tây Ninh; Nguyễn Thị N.M, sinh năm 1974, trú tại: 136/13A Nguyễn Tri Phương, phường An Đông, thành phố H.C.M; Nguyễn Thị T.P, sinh năm 1982, trú tại: số 758/6 Hương Lộ 2, phường Bình Trị Đông, thành phố H.C.M và một số người khác để tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 19/10/2025, anh D.M.H gửi đơn trình báo đến Công an phường Từ Sơn về nội dung vụ việc như trên.

Ngày 20/10/2025, D.X.C đã đến Công an phường Từ Sơn đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

* Vật chứng thu giữ:

- 23 tờ giấy A4 in nội dung hình ảnh chụp màn hình hội thoại tin nhắn giữa anh Hải và Cường qua tài khoản zalo tên “Như Quỳnh” và “Hoa” do anh Hải tự nguyện giao nộp.

- Ngày 20/10/2025, D.X.C tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xám, gắn sim số 0767.742.669 đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu vàng, gắn sim số 0924.917.506, đã qua sử dụng.

* Về xử lý vật chứng: Đối với 23 tờ giấy A4 in nội dung hình ảnh chụp màn hình hội thoại tin nhắn giữa anh Hải và Cường qua tài khoản zalo tên “Như Quỳnh” và “Hoa” do anh Hải tự nguyện giao nộp là vật chứng cần được lưu trong hồ sơ vụ án.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xám, gắn sim số 0767.742.669 đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu vàng, gắn sim số 0924.917.506, đã qua sử dụng do Cường tự nguyện giao nộp ngày 20/10/2025 là vật chứng cần chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Bắc Ninh để xử lý theo quy định.

* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 30/10/2025, bà Du X.L, sinh năm 1969, trú tại: Ấp An Quới, phường Thuận An, thành phố H.C.M, là mẹ đẻ của D.X.C tự nguyện bồi thường khắc phục số tiền 8.600.000 đồng. Anh Hải đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Tại Cơ quan điều tra, D.X.C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 116/CT-VKS-KV7 ngày 04 tháng 02 năm 2026 của VKSND khu vực 7 - Bắc Ninh truy tố bị cáo D.X.C về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo D.X.C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố, khẳng định không bị oan. Bị cáo xác định các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, bị cáo giữ nguyên những lời khai này. Bị cáo nhờ gia đình là mẹ đẻ đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 8.600.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Bắc Ninh giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận: giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 170, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo D.X.C từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng – 02 (hai) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữa tạm giam ngày 20/10/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị xem xét giải quyết. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Lưu trong hồ sơ vụ án 23 tờ giấy A4 in nội dung hình ảnh chụp màn hình hội thoại tin nhắn giữa anh Hải và Cường qua tài khoản zalo tên “Như Quỳnh” và “Hoa”; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xám, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu vàng là vật chứng công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu hủy 02 sim có số 0767.742.669 va sim số 0924.917.506 theo khoản 1 và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật TTHS. Ngoài ra còn đề nghị buộc bị cáo Cường phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

Bị cáo tranh luận mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là cao, đại diện Viện kiểm sát đối đáp do bị cáo phạm tội nhiều lần nên mức hình phạt đã đề nghị là không cao và giữ nguyên quan điểm. Tại lời nói sau cùng bị cáo trình bày, bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2]. Tại phiên toà, bị hại vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, tuy nhiên những người này đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

. Xem xét về hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung Cáo trạng của VKSND khu vực 7-Bắc Ninh đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 08/10/2025 đến ngày 16/10/2025, D.X.C đã có hành vi liên tục nhắn tin đe dọa anh D.M.H về việc đăng tải hình ảnh cá nhân và gia đình anh Hải lên mạng xã hội, mục đích để anh Hải lo sợ mọi người trong gia đình, bạn bè biết và mất uy tín với khách hàng, nhằm uy hiếp tinh thần của anh Hải để buộc anh Hải phải chuyển tiền cho Cường theo yêu cầu. Do lo sợ, anh Hải đã 03 lần chuyển khoản theo yêu câu của Cường, cụ thể như sau:

- Lần 1: Ngày 08/10/2025, anh Hải chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng.

- Lần 2: Ngày 13/10/2025, anh Hải chuyển khoản số tiền 3.600.000 đồng.

- Lần 3: Ngày 16/10/2025, anh Hải chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền Cường chiếm đoạt của anh Hải là 8.600.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự. VKSND khu vực 7-Bắc Ninh truy bố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

. Xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tang nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra bị cáo đã nhờ gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, bị cáo đầu thú nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt chính và biện pháp chấp hành hình phạt: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, HĐXX thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đếm quyền sở hữu tài sản của công dân được Bộ luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành, có đủ khả năng nhận thức nhưng do lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nên vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử và có mức hình phạt thỏa đáng, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trước mọi hành vi phạm tội là cần thiết. Khi lượng hình, HĐXX xét đến nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và tính chất hành vi phạm tội để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo.

HĐXX thấy: Số tiền bị cáo chiếm đoạt được 8.600.000đ. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo hình sự và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Ngoài lần phạm tội này bị cáo không phạm tội nào khác, đã khắc phục hậu quả cho bị hại nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để rèn luyện bản thân, giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã nhờ mẹ đẻ khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 8.600.000đ. bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

. Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xám, gắn sim đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu vàng, gắn sim là vật chứng công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công.

Đối với 02 sim điện thoại có số 0767.742.669 và số 0924.917.506 gắn theo 02 điện thoại bị tịch thu không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Vật chứng còn lại gồm: 23 tờ giấy A4 in nội dung hình ảnh chụp màn hình hội thoại tin nhắn giữa anh Hải và Cường qua tài khoản zalo tên “Như Quỳnh” và “Hoa” lưu hồ sơ vụ án.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

. Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo quy định Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh khi luận tội và đề xuất mức án cần xử phạt đối với bị cáo trong vụ án này Hội đồng xét xử xét thấy mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị phù hợp quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo D.X.C phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

2. Điều luật áp dụng và xử phạt:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 1760, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, các Điều 292, 293, 329, 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Xử phạt bị cáo D.X.C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 20/10/2025.

3. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

4. Về vật chứng:

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xám và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu vàng;

+ Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại có số 0767.742.669 và số 0924.917.506.

(Đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng số 90 ngày 04/02/2026 giữa cơ quan Công an tỉnh và cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

+ Lưu hồ sự vụ án: 23 tờ giấy A4 in nội dung hình ảnh chụp màn hình hội thoại tin nhắn giữa anh Hải và Cường qua tài khoản zalo tên “Như Quỳnh” và “Hoa”.

5. Về án phí: Buộc bị cáo D.X.C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

+ Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

+ Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Những người tham gia tố tụng;

- VKSND khu vực 7-Bắc Ninh;

- VKSND tỉnh Bắc Ninh;

- TAND tỉnh Bắc Ninh;

- Phòng HSNV Công an tỉnh Bắc Ninh;

- Cơ quan THAHS-Công an tỉnh Bắc Ninh;

- Phòng THA khu vực 7 –Bắc Ninh;

- Trại tạm giam số 01- CA tỉnh Bắc Ninh;

Vũ Thị Thiêm

- Cổng thông tin điện tử Tòa án;

- UBND phường Chánh Hưng, TP. H.C.M;

- Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỘNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thế Long + Đỗ Thị Thu Hiền

Vũ Thị Thiêm

Cỡ chữ