vanban.org

Bản án 127/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

Giấy chứng nhận kết hôn số 06 do Ủy ban nhân dân xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã Yên Phú, tỉnh Tuyên Quang) cấp ngày 23 tháng 6 năm 2004 cho chị Phạm Thị Thảo và anh Nguyễn Văn Dũng không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu pháp luật. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Th - Nguyễn Văn D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2025/HNGĐ-ST
Ngày 24/9/2025
“Về việc tranh chấp hôn nhân gia đình giữa
chị Phạm Thị Thảo và anh Nguyễn Văn Dũng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Cao Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Quang Luân.

2. Ông Vũ Ngọc Lâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Hạnh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2025/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 7 năm 2025 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 24/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Th, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn Th, xã Y, tỉnh Tuyên Quang).

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn Th, xã Y, tỉnh Tuyên Quang).

(Chị Th có đơn xin xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Th trình bày, về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn D có quan hệ hôn nhân hợp pháp, kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã Y, tỉnh Tuyên Quang) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 23/6/2004. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm, anh D thường xuyên uống rượu say, đánh đập vợ con, chị và các con phải về nhà mẹ đẻ chị ở và đi làm xa không ở cùng anh D. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng căng thẳng, không thể đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc, sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn D theo quy định của pháp luật, chấm dứt tình trạng hôn nhân như hiện nay.

Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung là cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 15/10/2004 và cháu Nguyễn Đức M, sinh ngày 06/8/2009. Hiện cháu Nguyễn Đức H đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) và phát triển bình thường, chị không đề nghị giải quyết; sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Đức M đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) và không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Chị Th xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần báo gọi anh Nguyễn Văn D đến để viết bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh D đều không có mặt. Tòa án đã tiến hành xác minh với ông Phùng Duy L, trưởng thôn Th, xã Y, tỉnh Tuyên Quang. Kết quả thể hiện, anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1981 và chị Phạm Thị Th, sinh năm 1985 đều là công dân có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Th, xã Y, tỉnh Tuyên Quang. Anh D và chị Th kết hôn với nhau vào năm 2004, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Trong thời gian đầu chung sống tình cảm anh chị hòa thuận, hạnh phúc và cùng nhau làm ăn kinh tế. Đến năm 2020 anh D và chị Th phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh D bị tai biến thay đổi tính cách, thường xuyên uống rượu say xỉn, không chịu làm ăn kinh tế mà còn hay chửi bới, đuổi vợ con, gia đình có khuyên ngăn nhưng anh D không thay đổi. Đến năm 2022 chị Th, anh D mâu thuẫn trầm trọng nên chị Th và các cháu về nhà ngoại ở đến nay. Về con chung, chị Th và anh D có 02 con chung là cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 15/10/2004 và cháu Nguyễn Đức M, sinh ngày 06/8/2009. Hiện nay cháu H đã đủ tuổi trưởng thành, cháu M ở với chị Th. Về tài sản chung, anh D, chị Th có một số tài sản chung nhưng thôn không nắm cụ thể, chị Th và anh D không có nợ chung. Quan điểm, ý kiến của thôn thấy anh D và chị Th đã mâu thuẫn trầm trọng, sống ly thân nhau đã lâu không thể đoàn tụ chung sống với nhau được, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân, đề nghị xử cho chị Phạm Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

Về con chung, đề nghị giao cháu Nguyễn Đức M, sinh ngày 06/8/2009 cho chị Phạm Thị Th được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Nguyễn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở; các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn.

Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị buộc chị Phạm Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và ý kiến của chị Phạm Thị Th, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Th và anh Nguyễn Văn D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã Y, tỉnh Tuyên Quang) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 23/6/2004, trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán của địa phương; như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh D là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm, anh D thường xuyên uống rượu say, đánh đập vợ con, anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh D không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng căng thẳng, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc và tiến bộ. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th, xử cho chị Phạm Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

Về con chung: Chị Th và anh D có hai con chung là cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 15/10/2004 và cháu Nguyễn Đức M, sinh ngày 06/8/2009; hiện tại cháu Nguyễn Đức H đã đủ tuổi trưởng thành, chị Th không đề nghị giải quyết. Tại biên bản lấy ý kiến con chung, cháu Nguyễn Đức M có nguyện vọng muốn được ở cùng với chị Th khi bố mẹ ly hôn. Do vậy để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển mọi mặt của cháu, xét thấy chị Th có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, do vậy giao cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức M đến tuổi trưởng thành là phù hợp, anh Nguyễn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.

Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Chị Th xác định không có, không đề nghị giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về việc vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn D vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú và các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung, quan hệ tài sản, đất đai, vay nợ chung của anh anh D và chị Th, cũng như đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đảm bảo đúng với các quy định của pháp luật. Các thủ tục tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng và xác minh của Tòa án đã thực hiện đầy đủ và đúng với các quy định của pháp luật về việc giải quyết vụ án trong trường hợp một bên đương sự vắng mặt. Tại phiên toà chị Phạm Thị Th có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về án phí: Chị Phạm Thị Th phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; anh Nguyễn Văn D không phải nộp án phí.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Th.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Th được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

Giấy chứng nhận kết hôn số 06 do Ủy ban nhân dân xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (nay là xã Yên Phú, tỉnh Tuyên Quang) cấp ngày 23 tháng 6 năm 2004 cho chị Phạm Thị Thảo và anh Nguyễn Văn Dũng không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đức M, sinh ngày 06/8/2009 cho chị Phạm Thị Th được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi); anh Nguyễn Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở; các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000094 ngày 18/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang; anh Nguyễn Văn D không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Th và anh Nguyễn Văn D vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ