vanban.org

Bản án 127/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Phú Tân, tỉnh An Giang Tuyên án 29/04/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C đối với bà Ngô Thị Thúy P, ông Lê Văn M, bà Lê Thị Yến N1

Buộc bà Ngô Thị Thúy P, ông Lê Văn M, bà Lê Thị Yến N1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng chính sách xã hội số tiền vốn vay còn nợ theo chương trình vay hộ nghèo 22.000.000 đồng và lãi phát sinh tính đến ngày 29/4/2025 là 11.626.712 đồng, Tổng cộng vốn và lãi là 33.626.712 đồng. Kể từ ngày 29/4/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C đối với bà Ngô Thị Thúy P, ông Lê Văn M, bà Lê Thị Yến N1
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 688 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 127/2025/DS-ST
Ngày: 29/4/2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Văn Luỹ

2. Bà Nguyễn Thuý Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên Tòa: Lê Thị Cẩm Thi – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2025/TLST-DS, ngày 19 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST- DS, ngày 31 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng C, có trụ sở tại: Số A, phố L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc N, chức vụ: Phó giám đốc Phòng giao dịch NHCSXH huyện P làm đại diện theo văn bản ủy quyền số 42/QĐ – NHCS ngày 06 tháng 6 năm 2022, xin vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Ngô Thị Thúy P, sinh năm 1970, nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị Yến N1, sinh năm 1997.

2. Ông Lê Văn M, sinh năm 1989.

Cùng cư trú tại: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/02/2025 và lời khai của đại điện nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc N trình bày:

Ngày 07/11/2014 bà Ngô Thị Thúy P đại diện cho hộ gia đình vay vốn tại phòng giao dịch NHCSXH huyện P chương trình cho vay hộ nghèo, tổng số tiền vay là 22.000.000đ, thời hạn trả nợ vay là 17/08/2019 lãi suất trong hạn là 0,6%/tháng và lãi suất quá hạn là 0,78%/tháng đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 22/11/2021. Tổng cộng vốn gốc và lãi tính đến ngày 17/02/2025 là 33.626.712 đồng, trong đó tiền gốc là 22.000.000 đồng, tiền lãi là 11.626.712 đồng.

Sau khi nhận tiền vay thì hộ bà T P không thực hiện nghĩa vụ trả tiền vốn vay và tiền lãi theo chương trình vay với Ngân hàng được lần nào. Nay Ngân hàng yêu cầu bà Thúy P cùng ông Lê Văn M, bà Lê Thị Yến N1 liên đới trả cho ngân hàng số tiền 33.626.712 đồng, trong đó tiền vốn là 22.000.000 đồng, lãi 11.626.712 đồng.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà P, ông M và bà Yến N1 vắng mặt không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Thúy P, ông M và bà Yến N1 trả cho ngân hàng số tiền 33.626.712 đồng, trong đó tiền vốn gốc là 22.000.000đồng, lãi là 11.626.712 đồng tạm tính đến ngày 17/02/2025.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu ông M, bà Thúy P, bà Yến N1 có trách nhiệm trả tiền vay nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt phiên tòa lần thứ hai, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Giao dịch dân sự được thực hiện năm 2014 chưa được thực hiện xong mà có nội dung, hình thức phù hợp với Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 là phù hợp điểm b, khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về nội dung giải quyết vụ án:

Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng C với Ngô Thị Thúy P (đại diện cho hộ gia đình) được xác lập theo giấy đề nghị vay vốn ngày 15/8/2014 số tiền vay 22.000.000đồng, mục đích vay là nuôi bò, nuôi heo sinh sản sau khi được phê duyệt thì ngày 07/11/2014 bà Thúy P đại diện hộ gia đình nhận 22.000.000 đồng.

Xét về hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

Căn cứ các chứng cứ Ngân hàng C cung cấp gồm sổ vay vốn theo chương trình cho vay hộ nghèo số tiền 22.000.000đồng đã chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 22/11/2021, giấy ủy quyền cam kết thực hiện nghĩa vụ trả nợ của các thành viên trong hộ đối với các khoản vay nói trên. Quá trình tố tụng các đương sự không có ý kiến gì đối với các chứng cứ này điều đó phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có giá trị pháp lý.

Hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn với bà Thúy P, ông M, bà Yến N1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận với nhau, theo đó hộ bà P đã nhận đủ số tiền vay theo hợp đồng. Sau khi nhận tiền vay thì bà P không đóng lãi, trả vốn cho ngân hàng được lần nào mặc dù ngân hàng đã tạo điều kiện đôn đốc, nhắc nhở và các đương sự có cam kết trả nợ nhưng đến nay vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết nên Ngân hàng khởi kiện là có căn cứ. Vì vậy, buộc ông M, bà Thúy P, bà Yến N1 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân Hàng đối với số tiền vốn còn nợ của chương trình cho vay hộ nghèo với số tiền là 22.000.000 đồng.

Đối với tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn nguyên đơn yêu cầu tính đến ngày 29/04/2025 căn cứ theo quy định hợp đồng các bên đã ký kết và theo Quyết định số 82/QĐ/HĐQT ngày 13/12/2021 đến ngày 12/3/2023 và quyết định số 72/QĐ/HĐQT ngày 05/12/2023 đến ngày 05/12/2025 của Ngân hàng về việc khoanh nợ đối với khoản vay trên, trong thời gian này sẽ không phát sinh lãi, sau thời gian này sẽ phát sinh theo nợ quá hạn và lãi quá hạn, vì vậy yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp nghĩ nên chấp nhận.Tính đến ngày 29/4/2025 số tiền lãi của khoản vay 22.000.000 đồng là 11.626.712 đồng; Tổng cộng tiền lãi và vốn là 33.626.712 đồng.

Từ những cơ sở trên nghĩ nên buộc ông M, bà Thúy P và bà Yến N1 có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 29/4/2025 của hợp đồng tín dụng tổng cộng là 33.626.712 đồng.

Về án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu tiền án phí sơ thẩm. Ngân hàng không phải chịu tiền án phí sơ thẩm. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thúy P, ông M, bà N1 thuộc trường hợp được miễn tiền án phí nhưng ông, bà không có đơn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 275, Điều 288, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C đối với bà Ngô Thị Thúy P, ông Lê Văn M, bà Lê Thị Yến N1

Buộc bà Ngô Thị Thúy P, ông Lê Văn M, bà Lê Thị Yến N1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng chính sách xã hội số tiền vốn vay còn nợ theo chương trình vay hộ nghèo 22.000.000 đồng và lãi phát sinh tính đến ngày 29/4/2025 là 11.626.712 đồng, Tổng cộng vốn và lãi là 33.626.712 đồng.

Kể từ ngày 29/4/2025, bà Ngô Thị Thúy P, ông Lê Văn M, bà Lê Thị Yến N1 còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận sổ vay vốn theo chương trình cho vay hộ nghèo cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Bà Ngô Thị Thúy P, ông Lê Văn M, bà Lê Thị Yến N1 cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.681.335 đồng.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án. Riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ