- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phãm giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên trả lại; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 127/2024/HS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 26/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:
Ông Võ Quang Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Viết Xứng
Ông Vũ Trung Thành
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Văn Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 26/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 125/2024/TLST-HS ngày 28/10/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST-HS ngày 05/12/2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Tấn Đ; (Tên gọi khác: Không có tên gọi khác); Sinh 1991; Nơi sinh: Đắk Lắk; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 4, phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Tổ dân phố 4, phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tiến Phát; Sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Nguyên; Sinh năm 1966; Có vợ là Võ Thị Dinh, sinh năm 1996 và có 02 (hai) con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019;
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/01/2024 cho đến nay.
Bị Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Trần Đình H; (Tên gọi khác: Không có tên gọi khác); Sinh năm 1991; Nơi sinh: Nơi sinh: Đắk Lắk; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 9, phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú :Tổ dân phố 9, phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đình Dũng; Sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Thu; Sinh năm 1965; Có vợ là Nguyễn Thị Tường Vi, sinh năm 1991 và có 01 con sinh năm 2024;
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/01/2024 cho đến nay.
Bị VKSND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự
Có mặt tại phiên tòa.
*Người Đ diện hợp pháp của người bị hại: Bà Lường Thị Tuấn, sinh năm 1934
Trú tại: Thôn Phú Lợi, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
Có mặt tại phiên tòa.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Quang Chuyên, sinh năm 1966
Trú tại: Thôn Phú Lợi, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước
Có mặt tại phiên tòa.
2. Ông Phan Thành Thuận, sinh năm 1992
Trú tại: Tổ dân phố 4, phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắk Lắk.
Vắng mặt tại phiên tòa.
*Người làm chứng:
1. Ông Lê Đình Chính, sinh năm 1986
Trú tại: Ấp 2, xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Ông Phạm Văn Thành, sinh năm 1978
Trú tại: Ấp 2, xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Bà Lê Thị Hương, sinh năm 1967
Trú tại: Tổ 02, ấp Xạc Lây, xã Tân Quan, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Đình H, có giấy phép lái xe hạng FC và Nguyễn Tấn Đ cùng làm công việc lái xe, bốc dỡ hàng cho Phan Thành Thuận. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 03/10/2023, Trần Đình H điều khiển ô tô tải nhãn hiệu JAC, khối lượng toàn bộ theo thiết kế là 14.850 kg, biển kiểm soát (BKS) 47E-007.93 chở hàng (cơm sấy, thùng sơn nước) đi theo đường Quốc lộ 14 từ thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk để giao cho khách ở tỉnh Đồng Nai và tỉnh Long An, Nguyễn Tấn Đ đi cùng để phụ giúp bốc dỡ hàng hóa. Trong khi ăn cơm, nghỉ ngơi tại trạm dừng nghỉ Miền Trung thuộc xã Thọ Sơn, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, do thấy xe ô tô BKS 47E-007.93 là xe mới nên Đ thích và xin H cho Đ điều khiển một đoạn. H biết Đ chỉ có giấy phép lái xe hạng B2, không đủ điều kiện điều khiển xe ô tô tải nH H vẫn đồng ý. Sau đó, Đ điều khiển xe còn H vào giường sau ghế lái nằm ngủ. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến đường Quốc lộ 14 đoạn thuộc khu vực ấp 2, xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, Đ điều khiển xe ô tô BKS 47E-007.93 đi qua làn đường xe ô tô của phần đường dành cho xe lưu thông theo hướng ngược lại để vượt một xe container (không rõ biển kiểm soát). Cùng lúc này, Đ thấy ở làn đường xe mô tô hướng thành phố Đồng Xoài đi huyện Bù Đăng có 02 (hai) xe mô tô đang di chuyển tới cách xe ô tô của Đ khoảng 50 mét gồm: Xe mô tô do anh Lê Đình Chính đi trước, xe mô tô do ông Lê Văn Mẫn điều khiển đi liền kề. Xe mô tô do ông Mẫn điều khiển đã va chạm vào phía sau xe mô tô do anh Chính điều khiển, ông Mẫn ngã ra làn đường xe ô tô nên bị bánh sau bên trái xe ô tô BKS 47E-007.93 do Đ điều khiển cán qua người dẫn đến tử vong tại hiện trường.
Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường và Sơ đồ hiện trường lúc 20 giờ 30 phút ngày 03/10/2023, xác định:
+ Điều kiện thời tiết, khí hậu, ánh sáng: Trời tối, đường khô, ánh sáng đèn pin.
+ Hiện trường chung nơi xảy ra tai nạn: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là tại Km 946+700 đường Quốc lộ 14 thuộc ấp 2, xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, được trải nhựa bằng phẳng, tình trạng mặt đường khô ráo, đoạn đường xảy ra tai nạn là ngoài khu vực đông dân cư có hướng từ thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đi huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Mặt đường nơi xảy ra tai nạn có bề rộng 12 mét, ở giữa có vạch sơn màu vàng đứt quãng chia đường thành hai chiều đường, mỗi chiều đường rộng 6,0 mét gồm 02 làn xe chạy. Theo thứ tự từ mép nhựa bên phải sang bên trái chiều từ thành phố Đồng Xoài đi huyện Bù Đăng: Làn đường số 01 rộng 2,3 mét, làn đường số 02 rộng 3,7 mét, làn đường số 01 và số 02 phân chia bởi vạch sơn trắng đứt nét. Làn đường số 03 rộng 3,7 mét, làn đường số 02 và làn đường số 03 được phân chia bởi vạch sơn vàng đứt nét. Làn đường số 04 rộng 2,3 mét, làn đường số 03 và làn đường số 04 được phân chia bằng vạch sơn trắng đứt nét. Bên phải đường hướng từ thành phố Đồng Xoài đi huyện Bù Đăng là lề đường đất rộng 5 mét. Bên phải đường hướng từ huyện Bù Đăng đi thành phố Đồng Xoài là lề đường đất rộng 5 mét.
Theo hướng từ thành phố Đồng Xoài đi huyện Bù Đăng: Khu vực trước hiện trường có biển báo Chỗ ngoặt nguy hiểm bên trái W.201a. Khu vực sau hiện trường biển báo Đường người đi bộ cắt ngang W.224, biển báo Cấm các loại xe cơ giới vượt nhau P.125. Theo hướng từ huyện Bù Đăng đi thành phố Đồng Xoài: Khu vực trước hiện trường có biển báo Hết cấm vượt DP.133.
+ Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết: Sau tai nạn giao thông hiện trường để lại vị trí các phương tiện, dấu vết, nạn nhân liên quan theo thứ tự: (1) vết cày số 01; (2) vùng mảnh vỡ; (3) xe mô tô BKS 93P2 – 264.24; (4) vết cày số 02; (5) nạn nhân; (6) xe mô tô BKS 93P1 – 396.93; (7) xe ô tô tải BKS 47E – 007.93.
+ Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Lấy mép nhựa bên phải đường theo hướng từ thành phố Đồng Xoài đi huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước làm mép đường chuẩn. Chọn cột mốc Km 946+700 bên phải đường theo hướng từ huyện Bù Đăng đi thành phố Đồng Xoài tỉnh Bình Phước làm điểm mốc, đo đến mép chuẩn là 13,75m. Lấy đơn vị đo là mét (m) làm đơn vị đo cho toàn bộ hiện trường.
+ Mô tả theo thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
Vết cày số 01 ký hiệu (1): Có màu trắng đục, đứt quãng, có kích thước (01 x 0,01)m nằm ở bên phải đường trên làn đường số 01. Đầu quay về hướng thành phố Đồng Xoài, đuôi quay về hướng huyện Bù Đăng và nằm ngay trên gác chân trước bên phải (3). Đầu (1) đến mép chuẩn là 0,4m, đến tâm (2) là 0,25m.
Vùng mảnh vỡ ký hiệu (2) gồm: (ốc vít, lông đền, dè chắn bùn đuôi xe và biển số xe mô tô BKS 93P2-264.24): Không rõ hình dạng, có kích thước (0,4 x 0,5) mét nằm ở bên phải đường, trên làn đường số 01. Tâm (2) đến mép chuẩn là 0,2m, đến đầu tâm trục bánh sau bên trái (3) là 0,6m.
Xe mô tô BKS 93P2-264.24 ký hiệu (3): Sau tai nạn lật ngã qua bên phải, nằm ở bên phải đường, trên làn đường số 01 và trên lề đường đất bên phải. Đầu quay ra đường nhựa và chếch về hướng huyện Bù Đăng thành phố Đồng Xoài, đuôi quay vào lề đường đất và chếch về hướng thành phố Đồng Xoài. Từ đầu tâm trục bánh trước bên trái (3) đến mép chuẩn là 01m, đến đầu (4) là 1,1m, đến đầu tâm trục bánh trước bên phải (6) là 7,4m. đến mép chuẩn là 7,5m. Từ đầu tâm trục bánh sau bên trái (3) đến mép chuẩn là 0,15m.
Vết cày số 02 ký hiệu (4): Có màu trắng đục, đứt quãng, có kích thước (7,1 x 0,01) m nằm ở bên phải đường trên làn đường số 01. Đầu quay về hướng thành phố Đồng Xoài, đuôi quay về hướng huyện Bù Đăng và nằm ngay trên gác chân trước bên phải (6). Đầu (4) đến mép chuẩn là 1,35m, đến tâm đầu (5) là 5,3m.
Nạn nhân Lê Văn Mẫn ký hiệu (5): Nằm ngửa ở bên phải đường trên làn đường số 02. Đầu quay ra đường nhựa và chếch về hướng huyện Bù Đăng, chân quay vào mép chuẩn và chếch về hướng thành phố Đồng Xoài. Tâm đầu (5) đến mép chuẩn là 3,7m, đến đầu tâm trục bánh trước bên phải (6) là 2,8m, đến đầu tâm trục bánh sau phía ngoài bên trái (7) là 172,1m, đến điểm mốc là 16,4m. Tâm chân (5) đến mép chuẩn là 2,3m.
Xe mô tô BKS 93P1-396.93 ký hiệu (6): Sau tai nạn lật ngã qua bên trái, nằm ở bên phải đường, trên làn đường số 01. Đầu quay về hướng thành phố Đồng Xoài, đuôi quay về hướng huyện Bù Đăng. Từ đầu tâm trục bánh trước bên phải (6) đến mép chuẩn là 1,3m. Từ đầu tâm trục bánh sau bên phải (6) đến mép chuẩn là 1,3 m, đến điểm mốc là 16m.
Xe ô tô BKS 47E-007.93 ký hiệu (7): Sau tai nạn đỗ bên trái đường theo hướng thành phố Đồng Xoài đi huyện Bù Đăng, trên làn đường số 04 và trên lề đường đất bên trái. Đầu về hướng thành phố Đồng Xoài, đuôi quay về hướng huyện Bù Đăng. Từ đầu tâm trục bánh trước bên trái (7) đến mép chuẩn là 14m. Từ đầu tâm trục bánh sau phía ngoài bên trái (7) đến mép chuẩn là 13,8m, đến điểm mốc là 185m.
Theo Bản kết luận giám định tử thi số 1012/KL-KTHS ngày 19/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: “Lê Văn Mẫn, sinh năm 1978 bị đa chấn thương gãy xương, giập vỡ đa tạng vùng ngực bụng dẫn đến tử vong”.
Theo Kết luận giám định số 1027/KL-KTHS ngày 18/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: “Mẫu máu ghi tên Lê Văn Mẫn đựng trong 02 ống nhựa được niêm phong gửi giám định tìm thấy thành phần cồn Ethanol, nồng độ Ethanol là 164,903 mg/100 ml máu”.
Theo Kết luận giám định số 734/KL-KTHS ngày 23/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: “Vị trí va chạm giữa hai phương tiện: Vị trí mặt ngoài phía sau bên trái ốp bảo vệ xích xe mô tô BKS 93P2 – 264.24, cách nền 25 cm với vị trí cần đạp thắng sau phải xe mô tô BKS 93P1 – 396.93, cách nền 25 cm là phù hợp”.
Theo Biên bản ghi nhận kết quả kiểm tra nồng độ cồn lúc 20 giờ 44 phút ngày 03/10/2024 đối với Nguyễn Tấn Đ, kết quả 0,00 mg/1 lít khí thở; kết quả xét nghiệm ma túy âm tính.
Theo Biên bản ghi nhận kết quả kiểm tra nồng độ cồn lúc 20 giờ 40 phút ngày 03/10/2024 đối với Trần Đình H, kết quả 0,00 mg/1 lít khí thở; kết quả xét nghiệm ma túy âm tính.
Theo Biên bản ghi nhận kết quả kiểm tra nồng độ cồn lúc 21 giờ 12 phút ngày 03/10/2024 đối với Lê Đình Chính, kết quả 0,00 mg/1 lít khí thở (bút lục 146).
* Vật chứng thu giữ:
01 (một) xe mô tô BKS 93P2 – 264.24.
01 (một) xe mô tô BKS 93P1 – 396.93.
01 (một) xe ô tô tải BKS 47E – 007.93.
Các mảnh vỡ sau tai nạn để lại hiện trường.
01 (một) giấy phép lái xe số 660167012258, mang tên Trần Đình H, sinh năm 1991, hạng FC, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Nông cấp ngày 28/8/2023 có giá trị đến ngày 28/8/2028.
01 (một) giấy biên nhận thế chấp ngân hàng còn giá trị; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đối với xe ô tô BKS 47E – 007.93.
01 (một) giấy phép lái xe số 660168005482, mang tên Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1991.
Ngày 04/10/2023, lực lượng Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Phước trả lại hàng hóa trên xe ô tô BKS 47E – 007.93 cho Nguyễn Tấn Đ.
Ngày 25/01/2024, Cơ quan điều tra trả lại xe ô tô BKS 47E – 007.93 và giấy chứng nhận kiểm định an toàn cho anh Phan Thành Thuận.
Ngày 25/9/2024, Cơ quan điều tra trả lại xe mô tô BKS 93P1 – 396.93 cho bà Lường Thị Tuấn, trả lại xe mô tô BKS 93P2 – 264.24 cùng với biển kiểm soát (gắn liền mảnh nhựa) cho anh Lê Đình Chính.
*Về trách nhiệm dân sự:
Nguyễn Tấn Đ, Trần Đình H đã bồi thường 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng), gia đình nạn nhân đã viết đơn xin bãi nại, không có ý kiến, yêu cầu nào khác.
Anh Lê Đình Chính không có yêu cầu.
Cáo trạng số 124/CT-VKSĐP ngày 25/10/2024, VKSND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước Truy tố bị cáo Nguyễn Tấn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Trần Đình H về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa:
Đ diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như Cáo trạng số 124/CT-VKSĐP ngày 25/10/2024 của VKSND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước và đề nghị Hội đồng xét xử:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; bị cáo Trần Đình H phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
2.Về hình phạt:
2.1. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38; 50 và 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ mức án 03(ba) năm tù nH cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm.
2.2. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264 các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 36; 50 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Đình H từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
3. Xử lý vật chứng:
Đề nghị áp dụng các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tuyên trả cho Trần Đình H 01 (một) giấy phép lái xe số 660167012258, mang tên Trần Đình H, hạng FC, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Nông cấp ngày 28/8/2023 có giá trị đến ngày 28/8/2028; Nguyễn Tấn Đ 01 (một) giấy phép lái xe số 660168005482, mang tên Nguyễn Tấn Đ, hạng B2, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 22/5/2020, có giá trị đến ngày 22/5/2030; Phan Thành Thuận 01 (một) giấy biên nhận thế chấp ngân hàng.
4.Về trách nhiệm dân sự: Người Đ diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét.
Các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Trần Đình H khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng số 124/CT-VKSĐP ngày 25/10/2024 của VKND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, trong giai đoan điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Vì vậy, hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Trần Đình H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai, nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người Đ diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường và Sơ đồ hiện trường lúc 20 giờ 30 phút ngày 03/10/2023, Kết luận giám định số 1012/KL-KTHS ngày 19/10/2023, Kết luận giám định số 1027/KL-KTHS ngày 18/10/2023, Kết luận giám định số 734/KL-KTHS ngày 23/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, phù hợp với Bản kết luận điều tra số 135/BKL-ĐTTH ngày 26/9/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước; phù hợp với nội dung Cáo trạng số 124/CT-VKSĐP ngày 25/10/2024 của VKSND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Ngày 03/10/2024, Trần Đình H biết Nguyễn Tấn Đ không có giấy phép lái xe theo quy định nH vẫn giao xe ô tô tải BKS 47E – 007.93 cho Nguyễn Tấn Đ điều khiển lưu thông trên đường Quốc lộ 14 theo hướng huyện Bù Đăng đi thành phố Đồng Xoài. Khi đến đoạn thuộc khu vực ấp 2, xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, Nguyễn Tấn Đ vượt xe khi không đảm bảo các điều kiện an toàn, gây tai nạn giao thông làm Lê Văn Mẫn tử vong tại hiện trường. Hành vi mà bị cáo Nguyễn Tấn Đ đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tại thời điểm Nguyễn Tấn Đ điều khiển xe ô tô BKS 47E – 007.93 lưu thông trên đường QL14 thì Đ không có giấy phép lái xe (hạng FC) theo quy định nên phải chịu tình tiết định khung theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Hành vi mà bị cáo Trần Đình H đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ và gây mất trật tự cho xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người bình thường, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc không tuân thủ quy tắc khi tham gia giao thông đường bộ là vi phạm nH vì chủ quan nghĩ rằng hậu quả sẽ không xảy ra dấn đến gây tai nạn làm cho bị hại Lê Văn Mẫn chết nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sữ về hành vi phạp tội của mình đã gây ra.
Vì vậy, Cáo trạng số số 124/CT-VKSĐP ngày 25/10/2024 của VKSND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Tấn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Trần Đình H về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa, bồi thường, khắc phục hậu quả; người Đ diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại; có con còn nhỏ (Bị cáo Trần Đình H có con sinh năm 2024, bị cáo Nguyễn Tấn Đ có con sinh năm 2019), là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
Nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo có nhân thân tốt.
Căn cứ quyết định hình phạt:
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo; Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo có nhân thân tốt, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; các bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù, nếu cho các bị cáo hưởng án treo và cải tạo không giam giữ thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước ta mà cố gắng tự cải tạo, trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Các bị cáo là lao động chính trong gia đình, còn phải nuôi con nhỏ, nghề nghiệp chính là tài xế, không có chức vụ quản lý liên quan đến lĩnh vực tham gia giao thông đường bộ nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều Điều 260 và khoản 4 Điều Điều 264 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) giấy phép lái xe số 660167012258, mang tên Trần Đình H, hạng FC, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Nông cấp ngày 28/8/2023 có giá trị đến ngày 28/8/2028; 01 (một) giấy phép lái xe số 660168005482, mang tên Nguyễn Tấn Đ, hạng B2, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 22/5/2020, có giá trị đến ngày 22/5/2030 và 01 (một) giấy biên nhận thế chấp ngân hàng là giấy tờ thuộc quyền sử dụng của các bị cáo và của Phan Thành Thuận, áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên trả lại cho chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự: Người Đ diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự; các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt như trên là có cơ sở và được xem xét khi quyết định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1.Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; bị cáo Trần Đình H phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38; 50 và 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ 03 năm tù nH cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm kể từ ngày tuyên án (Ngày 26/12/2024)
Giao bị cáo Nguyễn Tấn Đ cho Ủy ban nhân dân phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Tấn Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Tấn Đ cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 36; 50 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Đình H 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án.
Giao bị cáo Trần Đình H cho Ủy ban nhân dân phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo Trần Đình H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Khánh Xuân trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
3.Về xử lý vật chứng vụ án:
Áp dụng các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Tuyên trả đối với:
Trần Đình H 01 (một) giấy phép lái xe số 660167012258, mang tên Trần Đình H, hạng FC, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Nông cấp ngày 28/8/2023 có giá trị đến ngày 28/8/2028.
Nguyễn Tấn Đ 01 (một) giấy phép lái xe số 660168005482, mang tên Nguyễn Tấn Đ, hạng B2, do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 22/5/2020, có giá trị đến ngày 22/5/2030.
Phan Thành Thuận 01 (một) giấy biên nhận thế chấp Ngân hàng.
4. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.
5. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Trần Đình H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng.
6. Bị cáo, người Đ diện hợp pháp của người bị hại và người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước (01); - VKSND huyện Đồng Phú (01); - THADS huyện Đồng Phú(01); - CA huyện Đồng Phú (03); - Phòng PV06 Công an tỉnh BP - TT lý lịch tư pháp – Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước (01); - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú (01); - Bị cáo; người tham gia tố tụng (01); - Lưu (02). Các thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Viết Xứng – Giang Công Chiến TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Các Hội thẩm nhân dân: năm 2023 đối với bị cáo: Lê Anh Vĩ, Sinh năm 1987; Tại: Quảng Ngãi; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Bình Thanh, xã Trà Bình, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn Bình Thanh, xã Trà Bình, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Lái xe. Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: tham gia giao thông đường bộ” Kết quả biểu quyết: 03/03 nhất trí; 2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Điều 38; Điều 50, Điều 65 Bộ luật hình sự; gian thử thách là 03 năm kể từ ngày tuyên án (Ngày 28 tháng 4 năm 2023). tỉnh Quảng Ngãi quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Trà Bình, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Lê Anh Vĩ cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. khoản 5 Điều Điều 260 của Bộ luật hình sự Kết quả biểu quyết: 03/03 nhất trí; 3. Các vần đề khác: 3.1.Về xử lý vật chứng vụ án: 08GB màu đỏ - đen bên trong có đoạn video có thời lượng 05 phút 01 giây; 01 (một) USB màu đen – trắng bên trong có đoạn video thời lượng 31 giây hình sự trả lại cho bị cáo Lê Anh Vĩ 01 (một) giấy phép lái xe hạng E mang tên Lê Anh Vĩ. 3.2.Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết. hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lê Anh Vĩ phải nộp 200.000đồng. trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người Đ diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. Kết quả biểu quyết: 03/03 nhất trí; thông qua và nhất trí ký tên dưới đây. Các thành viên Hội đồng xét xử Phạm Hiệp – Hoành Văn Tư | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Quang Dũng Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Quang Dũng CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại phòng nghị án. Ông Võ Quang Dũng Ông Phạm Hiệp Ông Hoàng Văn Tư Tiến hành nghị án vụ án hình sự thụ lý số 19/2023/HSST ngày 06 tháng 3 Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Anh Vĩ phạm tội “Vi phạm quy định về Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Xử phạt bị cáo Lê Anh Vĩ 01 năm 06 tháng tù nH cho hưởng án treo, thời Giao bị cáo Lê Anh Vĩ cho Ủy ban nhân dân xã Trà Bình, huyện Trà Bồng, Trường hợp bị cáo Lê Anh Vĩ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Anh Vĩ theo quy định tại Lữu trữ tại hồ sơ vụ án đối với 01 (một) USB hiệu ADATA dung lượng Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng 3.3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng 3.4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Biên bản kết thúc lúc 10 giờ 50 phút cùng ngày đã được Hội đồng xét xử Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Quang Dũng |