- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2023/HS-ST Ngày: 31 - 10 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đồng Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Hưng Quang.
2. Ông Nguyễn Trọng Di.
- Thư ký phiên tòa: Ông Văn Hồng Lễ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Minh Nguyệt, Kiểm sát viên.
Ngày 31/10/2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 138/2023/TLST-HS ngày 06/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2023/QĐXXST-HS ngày 12/10/2023 đối với bị cáo:
Lê Thanh Đ (Ti), sinh năm 2001, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Thôn P, xã P1, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh Đ1 và bà Nguyễn Thị Ái D; Sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Kim T và có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua tin báo của quần chúng nhân dân cung cấp, tại nhà trọ Thư Hằng thuộc khu phố 5, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận có nhiều đối tượng tụ tập nghi vấn phạm tội về ma túy. Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 29/6/2023, Công an thị trấn Liên Hương tiến hành kiểm tra hành chính tại phòng số 11 nhà trọ Thư Hằng phát hiện bắt quả tang Lê Thanh Đ có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thu giữ dưới nền gạch, góc trái dưới kệ bếp gần vị trí Đạt đang ngồi có 01 túi vải màu đen, có dây gút một đầu, bên trong có chứa 01 gói nylon không màu hàn kín, kích thước khoảng 02 cm × 2,5 cm, bên trong gói nylon có chứa chất tinh thể màu trắng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu 01, định danh là mẫu M) và Đạt khai nhận chất tinh thể màu trắng chứa trong gói nylon là ma túy loại Khay của Đạt cất giấu với mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang và thu giữ. Ngoài ra không thu giữ gì thêm.
Tại bản kết luận giám định số 789/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 1,0171 gam; là Ketamine.
Lê Thanh Đ khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng đầu tháng 6 năm 2023, Lê Thanh Đ dùng tiền cá nhân một mình đi vào thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua ma túy, khi vừa vào đến Bến xe Miền Đông thuộc quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh thì Đ gặp một người thanh niên không rõ họ tên, lai lịch, Đ hỏi mua người thanh niên 500.000 đồng ma túy loại Khay thì người này đồng ý và đưa cho Đ 01 gói ma túy có đặc điểm là 01 gói nylon không màu hàn kín, kích thước khoảng 02 cm × 2,5 cm, bên trong gói nylon có chứa chất tinh thể màu trắng. Mua được ma túy xong, Đ bọc ma túy trong người rồi quay về lại phòng trọ số 11 nhà trọ Thư Hằng cất giấu ma túy trong túi vải màu đen với mục đích để sử dụng khi có nhu cầu, Đ đã sử dụng được một ít còn lại chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ.
Tại bản Cáo trạng số 152/CT-VKSTP-HS ngày 04/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Lê Thanh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên a ơ h :
- ki n của đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Tuy Phong: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thanh Đ từ 12 – 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định do đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng.
- ki n bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu là đúng, không oan. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 29/6/2023 tại phòng số 11 nhà trọ Thư Hằng thuộc khu phố 5, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, bị cáo Lê Thanh Đ bị bắt quả tang có hành vi cất giữ 1,0171 gam Ketamine mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, đây là hành vi trái pháp luật làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, tiếp tay cho những phần tử xấu duy trì tệ nạn ma túy đi ngược lại lợi ích chung của toàn xã hội, nhận thấy các tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện Tuy Phong ngày càng nhiều và ma túy cũng là nguyên nhân của một số loại tội phạm khác, do đó cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Về biện pháp tư pháp:
Đối với vật chứng là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, vật chứng gồm:
+ 01 túi vải màu đen, có dây gút một đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 02 có chữ ký của Lê Thanh Đ, Lý Thị Hảo, Võ Thị Thu, Hoàng Tuấn, Phan Xuân Tình và hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn Liên Hương.
+ 01 gói nylon không màu hàn kín, kích thước khoảng (02 × 2,5) cm, đã cắt lấy mẫu cùng 0,9215 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 789 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
Đối với với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo, do không rõ lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ: điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
2. Về biện pháp tư pháp:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy:
+ 01 túi vải màu đen, có dây gút một đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 02 có chữ ký của Lê Thanh Đ, Lý Thị Hảo, Võ Thị Thu, Hoàng Tuấn, Phan Xuân Tình và hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn Liên Hương.
+ 01 gói nylon không màu hàn kín, kích thước khoảng (02 × 2,5) cm, đã cắt lấy mẫu cùng 0,9215 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 789 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
(Các vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong
quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/10/2023)
3. Về án phí:
Áp dụng: Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều
23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tuy Phong; - Công an huyện Tuy Phong; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện Tuy Phong; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đồng Vũ |