vanban.org

Bản án 127/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lưu Thị O với ông Huỳnh Văn Ch.

Về hôn nhân: Bà Lưu Thị O được ly hôn với ông Huỳnh Văn Ch. Về quyền nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Lưu Thị O được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Huỳnh Mỹ Nhân, sinh ngày 19/10/2008 và Huỳnh Chấn Khang, sinh ngày 24/10/2016. Ông Huỳnh Văn Ch không phải cấp dưỡng nuôi con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lưu Thị Oanh "Ly hôn" Huỳnh Văn Chí"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lưu Thị O với ông Huỳnh Văn Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18-12-2023
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đặng Thị Bích Loan

2. Ông Nguyễn Văn Cao

- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.

Ngày 18 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 512/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 128/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lưu Thị O, sinh năm 1991; Đăng ký thường trú: Khóm 4, phường T, Thành phố C, tỉnh C; Địa chỉ cư trú hiện nay: Ấp 5, xã B, huyện B, tỉnh Long An.

Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Ch, sinh năm 1984; Đăng ký thường trú: Khóm 4, phường T, Thành phố C, tỉnh C; Địa chỉ cư trú hiện nay: Ấp 5, xã B, huyện B, tỉnh Long An.

(Bà Oanh có Đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, ông Chí vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 10/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lưu Thị O trình bày:

Năm 2008, bà Lưu Thị O và ông Huỳnh Văn Ch xác lập quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND Phường T, Thành phố C, tỉnh C ngày 30/11/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống nhưng không đảm bảo hạnh phúc. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau dẫn đến cãi vã. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà Oanh yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Chí.

Về quan hệ con chung: Bà Lưu Thị O xác định trong quá trình chung sống bà và ông Huỳnh Văn Ch có 02 con chung tên Huỳnh Mỹ Nhân, sinh ngày 19/10/2008 và Huỳnh Chấn Khang, sinh ngày 24/10/2016. Hiện cháu Nhân và cháu Khang đang do bà Oanh trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà Oanh yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông Chí cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Lưu Thị O xác định không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Lưu Thị O xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Huỳnh Văn Ch đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án gồm: 01 Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); 02 Giấy khai sinh (bản sao); 01 Căn cước công dân (bản sao).

Cháu Huỳnh Mỹ Nhân và Huỳnh Chấn Khang đều có ý kiến trong trường hợp cha mẹ ly hôn thì có nguyện vọng được sống với mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

. Nguyên đơn khởi kiện bị đơn có địa chỉ tại xã B, huyện B về việc tranh chấp “Ly hôn”. Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.

. Nguyên đơn bà Lưu Thị O có Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Huỳnh Văn Ch đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt theo qui định pháp luật.

Về nội dung tranh chấp:

. Bà Lưu Thị O, ông Huỳnh Văn Ch xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại UBND Phường T, Thành phố C, tỉnh C ngày 30/11/2009 theo qui định. Căn cứ khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Oanh và ông Chí là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

. Xét yêu cầu ly hôn của bà Oanh, Hội đồng xét xử xét thấy các đương sự kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng có thời gian dài chung sống nhưng không đảm bảo hạnh phúc. Trong quá trình nộp đơn khởi kiện, bà Oanh cho rằng giữa bà Oanh và ông Chí đã phát sinh mâu thuẫn là vợ chồng không hòa hợp với nhau về mọi mặt và không ai còn quan tâm đến nhau. Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã cho bà Oanh và ông Chí thời gian đoàn tụ nhưng ông Chí không có bất kỳ ý kiến về việc yêu cầu ly hôn của bà Oanh mà vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc đoàn tụ giữa các đương sự không có kết quả nên Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn giữa bà Oanh và ông Chí đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cho bà Lưu Thị O được ly hôn với ông Huỳnh Văn Ch.

. Về nuôi con chung: Theo lời trình bày của bà Oanh cùng các chứng cứ do bà Oanh cung cấp thì bà Oanh và ông Chí có 02 con chung tên Huỳnh Mỹ Nhân, sinh ngày 19/10/2008 và Huỳnh Chấn Khang, sinh ngày 24/10/2016. Xét thấy, hiện cháu Nhân và cháu Khang đang sống với bà Oanh, cuộc sống đã ổn định. Khi ly hôn, bà Oanh yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Hơn nữa, cả hai cháu Nhân và cháu Khang đều có nguyện vọng là muốn sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu Nhân và cháu Khang nên giao cháu Huỳnh Mỹ Nhân và Huỳnh Chấn Khang cho bà Oanh trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lưu Thị O không yêu cầu ông Huỳnh Văn Ch cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về chia tài sản, nợ chung: Bà Oanh trình bày quá trình chung sống không có tài sản chung và xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Chí vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Lưu Thị O phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điểm a khoản 1 các Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lưu Thị O với ông Huỳnh Văn Ch.

1. Về hôn nhân: Bà Lưu Thị O được ly hôn với ông Huỳnh Văn Ch.

2. Về quyền nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Lưu Thị O được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Huỳnh Mỹ Nhân, sinh ngày 19/10/2008 và Huỳnh Chấn Khang, sinh ngày 24/10/2016. Ông Huỳnh Văn Ch không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức đóng góp phí tổn nuôi con.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con, thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Lưu Thị O phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng. Khấu trừ tạm ứng án phí bà Oanh đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010478 ngày 17/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B chuyển sang án phí.

4. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết hợp lệ bản án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Long An;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Bến Lức; -UBND Phường T, Thành phố C, tỉnh C;

- THA huyện Bến Lức;

- Các đương sự;

- Lưu HS, lưu án văn.

Đặng Thị Nga

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Anh Thư – Nguyễn Thị Hưởng

Đặng Thị Nga Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện B;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- UBND thị trấn B;

- Các đương sự;

- Lưu: Hồ sơ, án văn.

Đặng Thị Nga

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Tám – Nguyễn Thị Hưởng

Đặng Thị Nga

Cỡ chữ