- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Vũ Thị Hồng D được ly hôn anh Nguyễn Khắc H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 07/4/2023 V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Luận
Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 26/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Hồng D, sinh năm 1982 (có mặt).
Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn PĐ, xã PNA, huyện CM, Thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc H, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Nơi ĐKHKTT: Thôn Phú Đ, xã PNA, huyện CM, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Vũ Thị Hồng D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Khắc H có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 07/9/2005 tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện VY, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H chơi bời lô đề, cờ bạc, không quan tâm đến gia đình. Từ cuối năm 2017 đến nay vợ chồng sống ly thân. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Khắc H.
Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày 10/4/2006 và Nguyễn Trung K, sinh ngày 29/11/2011. Hiện tại cả hai cháu đều đang ở cùng chị. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Hiện tại chị đang làm công nhân tại Công ty cổ phần tập đoàn Nam Hà Nội và làm thêm may tại nhà, tổng thu nhập 7.000.000 đồng/ 01 tháng.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Đối với bị đơn anh Nguyễn Khắc H: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H tại nơi cư trú theo đúng quy định nhưng anh H không thực hiện quyền, nghĩa vụ của bị đơn, không cung cấp chứng cứ và trình bày quan điểm của bị đơn theo quy định.
3. Ý kiến đương sự tại phiên tòa:
- Chị D vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn anh H. Về con chung: chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung Nguyễn Việt A và Nguyễn Trung K. Chị tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa chấp hành quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào ý kiến, quan điểm của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn và xử cho chị Vũ Thị Hồng D được ly hôn anh Nguyễn Khắc H. Về con chung: giao cả hai con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày 10/4/2006 và Nguyễn Trung K, sinh ngày 29/11/2011 cho chị D nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H đến khi có sự thay đổi khác. Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Khắc H có hộ khẩu thường trú tại xã P NA, huyện CM, Tp. Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Anh Nguyễn Khắc H đã được tống đạt hợp lệ: Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Hồng D kết hôn với anh Nguyễn Khắc H trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 07/9/2005 tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện VY, tỉnh Bắc Giang nên hôn nhân giữa chị D và anh H là hợp pháp. Trên cơ sở lời khai của chị D, kết quả thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân cho thấy: Trong quá trình chung sống giữa chị D và anh H phát sinh mâu thuẫn do anh H chơi bời dẫn đến nợ nần, không có trách nhiệm với gia đình, vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Trước yêu cầu của chị D xin ly hôn, anh H không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải, không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu của chị D xin ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
2.2. Về con chung: Chị D và anh H có 02 con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày 10/4/2006 và Nguyễn Trung K, sinh ngày 29/11/2011. Chị D có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cả hai con chung.
Xét việc xin nuôi con chung thấy: Xét thấy cả hai cháu Việt A và K trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ và đang ở ổn định với chị D. Mặt khác chị D có công việc và thu nhập ổn định. Ông Vũ Minh T và bà Nguyễn Thị T1 là bố, mẹ đẻ chị D có ý kiến: nếu vợ chồng ly hôn gia đình sẽ tạo điều kiện về chỗ ở và hỗ trợ chị D nuôi con. Để tránh xáo trộn trong sinh hoạt đối với hai cháu cần giao cả hai cháu Việt A và cháu K cho chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Anh H có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
2.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị D tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
2.4. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
2.5. Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
1.Về hôn nhân: Chị Vũ Thị Hồng D được ly hôn anh Nguyễn Khắc H.
2.Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Việt A, sinh ngày 10/4/2006 và Nguyễn Trung K, sinh ngày 29/11/2011 cho chị Vũ Thị Hồng D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Anh Nguyễn Khắc H có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3.Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H đến khi có sự thay đổi khác.
4.Về tài sản chung, công nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
5.Về án phí: Chị Vũ Thị Hồng D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về phần ly hôn. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2020/0076534 ngày 10 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Tp. Hà Nội.
6.Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị Hồng D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Khắc H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND Tp. Hà Nội; - VKSND huyện Chương Mỹ; - Chi cục THADS huyện Chương Mỹ; - UBND xã TL, huyện VY, tỉnh Bắc Giang (Trường hợp án có HLPL); - Lưu HSVA-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thế Lợi |