- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Ngọc M - Nguyễn Văn U"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trương Thị Ngọc M và anh Nguyễn Văn U được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2022/HNGĐ-ST Ngày: 09-8-2022 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thanh Tuấn
Ông Hồ Quốc Văn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 09 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 197/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2022/QĐXX-ST ngày 04 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Ngọc M, sinh năm 1994, có đơn xin vắng mặt
Địa chỉ: Ấp L, xã Long Khánh A, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn U, sinh năm 1996, vắng mặt
Địa chỉ: Ấp 9, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 09/5/2022 và quá trình giải quyết vụ án, chị Trương Thị Ngọc M trình bày:
Về hôn nhân: Chị M và anh U tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 15/7/2019. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Hiện tại, anh chị đã sống ly thân khoảng 03 tháng nay. Do đó, chị M yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh U.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trương Minh H, sinh ngày 21/10/2019, hiện anh U đang nuôi dạy. Khi ly hôn chị M tự nguyện giao cháu H cho anh U tiếp tục nuôi dạy, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Ngày 30/6/2022, chị M có đơn xin vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Trương Thị Ngọc M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn U. Do anh chị chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; anh U có địa chỉ tại ấp 9, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh U nhưng anh U vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh U theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 30/6/2022, chị M có đơn xin vắng mặt nên Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị M theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự
Về hôn nhân: Chị Trương Thị Ngọc M và anh Nguyễn Văn U tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 15/7/2019. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án chị M yêu cầu ly hôn với anh U. Xét thấy, yêu cầu của chị M là có cơ sở. Bởi vì, thời gian chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi nhau, hôn nhân không hạnh phúc. Hiện tại, anh chị đã sống ly thân khoảng 03 tháng nay. Mặt khác, Tòa án có tổ chức hòa giải để anh chị có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do anh U vắng mặt tại các lần hòa giải không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Trương Thị Ngọc M và anh Nguyễn Văn U được ly hôn.
Về con chung: Thời gian chung sống, anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Trương Minh H, sinh ngày 21/10/2019 (giới tính nữ). Xét thấy, cháu H đang sống với anh U, việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình cảm của cháu. Mặc khác, chị M cũng tự nguyện giao cháu cho anh U tiếp tục nuôi dạy, anh U cũng không có ý kiến gì về ý kiến của chị M. Vì vậy cần tiếp tục giao cháu H cho anh U nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Chị M, anh U không ai đặt ra yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị M xác định chị và anh U không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Chị Trương Thị Ngọc M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Trương Thị Ngọc M và anh Nguyễn Văn U được ly hôn.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trương Minh H, sinh ngày 21/10/2019 (giới tính nữ) cho anh Nguyễn Văn U tiếp tục nuôi dạy. Chị Trương Thị Ngọc M không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Chị M không trực tiếp nuôi dạy cháu H nhưng chị có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được quyền cản trở.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trương Thị Ngọc M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 19 tháng 5 năm 2022 chị M có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0014963 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị M, anh U vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Thới Bình; - Chi cục THADS huyện Thới Bình; - TAND tỉnh Cà Mau; - UBND xã Long Khánh A; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Bảo Trâm |