- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị D về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2022/HNGĐ - ST Ngày: 27 - 12 - 2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƢỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Đào
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đức Hòa
2. Bà Lê Thị Thận
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 212/2020/TLST- HNGĐ, ngày 19 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 280/2022/QĐXX - ST ngày 12 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị D, sinh năm 1979 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn , x B, huyện C, tỉnh Bình Phước.
Bị đơn: Ông Nguy n Văn H, sinh năm 1972 (Vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Trú tại: Thôn A, x B, huyện C, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Bùi Thị D trình bày:
* Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị D và ông Nguy n Văn H tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 1998, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Thịnh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Trong quá trình chung sống v ch ng có nhiều bất đ ng tình cảm và bất đ ng quan điểm sống và không còn hòa h p về tình cảm nên thư ng xuyên c i v , ông H có đánh đập bà D. Bà D nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đư c và không thể tiếp tục chung sống, kéo dài hôn nhân thêm đư c nữa nên đ sống ly thân với ông H từ năm 2020 cho đến nay. Vì vậy, bà D yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước giải quyết đư c ly hôn với ông Nguy n Văn H để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà D và ông H có 3 con chung là cháu Nguy n Hoàng P, sinh năm 2001; cháu Nguy n Phi Tr, sinh năm 2003 và cháu Nguy n Hoàng H, sinh năm 2007. Hiện nay cháu P và cháu Tr đ thành niên nên không yêu cầu giải quyết; đối với cháu H thì bà D có nguyện vọng đư c trực tiếp nuôi dưỡng cháu H cho đến khi cháu thành niên và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về n chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Ông H thống nhất với l i của bà D về th i gian chung sống và đăng ký kết hôn. Tuy nhiên quá trình chung sống v ch ng không có mâu thuẫn như bà D trình bày nên không đ ng ý ly hôn mà mong muốn v ch ng đoàn tụ.
Về con chung ông H thống nhất như bà D trình bày. Nếu phải ly hôn thì cháu Nguy n Hoàng H muốn sống cùng ai thì ngư i đó sẽ trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về n chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Cháu Nguyễn Hoàng H trình bày: Cháu là con của ông Nguy n Văn H và bà Bùi Thị D. Nay ông H và bà D ly hôn thì cháu H có nguyện vọng đư c sống cùng với mẹ là bà Bùi Thị D.
Tại phiên tòa: Bị đơn ông Nguy n Văn H vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt; nguyên đơn bà Bùi Thị D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng có quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đ ng xét xử thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Bùi Thị D; về con chung giao cháu Nguy n Hoàng H, sinh ngày 01/4/2007 cho bà Bùi Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi và không đặt ra vấn đề cấp dưỡng.
Về tài sản chung, n chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
Về án phí sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đ đư c xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào l i khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định:
Phần thủ tục tố tụng:
Theo đơn khởi kiện của bà Bùi Thị D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguy n Văn H. Hiện ông H đang cư trú tại thôn A, xã B, huyện C, Hội đ ng xét xử thấy tranh chấp giữa Nguyên đơn và Bị đơn thuộc lĩnh vực hôn nhân gia đình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bù Đăng.
Đối với việc giải quyết vắng mặt bị đơn ông Nguy n Văn H: Hội đ ng xét xử thấy rằng quá trình giải quyết vụ án, ông H đ có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đ ng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông H.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn năm 1998 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Điều này phù h p với Giấy chứng nhận kết hôn số 72 ngày 14/12/1998 của Ủy ban nhân dân thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định mà bà D đ giao nộp. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông H là h p pháp.
Về mâu thuẫn gia đình: Theo l i khai của bà D trong quá trình chung sống v ch ng phát sinh mâu thuẫn do không h p nhau, bất đ ng quan điểm nên thư ng xuyên c i v . Ông H lại cho rằng giữa ông H và bà D không có mâu thuẫn như l i trình bày của bà D nên không đ ng ý ly hôn mà mong muốn v ch ng đoàn tụ. Tuy nhiên, tại biên bản xác minh ngày 13/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng tại địa phương nơi ông H và bà D cư trú xác định giữa ông H và bà D có mâu thuẫn gia đình, bà D có thông báo tuy nhiên không làm h sơ hòa giải tại địa phương mà bà D yêu cầu khởi kiện ra Tòa giải quyết. Như vậy có cơ sở xác định giữa ông H và bà D có mâu thuẫn gia đình, tình trạng hôn nhân giữa ông H và bà D là trầm trọng, mục đích hơn nhân không đạt đư c, quá trình giải quyết vụ án bà D xác định không còn tình cảm với ông H nên vẫn cương quyết muốn ly hôn, không đ ng ý đoàn tụ. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận nguyện vọng muốn ly hôn của bà D.
Về con chung: Bà D và ông H có 03 ngư i con chung là cháu Nguy n Hoàng P, sinh năm 2001; cháu Nguy n Phi Tr, sinh năm 2003 và cháu Nguy n Hoàng H, sinh ngày 01/4/ 2007. Cháu P, cháu Tr đ thành niên nên bà D và ông H không yêu cầu. Đối với cháu H thì bà D có nguyện vọng đư c trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H cho đến khi cháu thành niên sau khi ly hôn; ông H có ý kiến nếu cháu H có nguyện vọng sống chung với ai thì ông H đ ng ý để ngư i đó nuôi dưỡng. Xét thấy, quá trình làm việc cháu H có nguyện vọng đư c sống chung với mẹ là bà D. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bà D, giao cháu H cho bà D đư c trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, n chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự buộc nguyên đơn bà D phải nộp 300.000đ ng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo luật định.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng là có căn cứ nên đư c chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các điều 51, 55, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH16 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị D về việc ly hôn. Bà D đư c ly hôn với ông Nguy n Văn H.
Về con chung: Giao cháu Nguy n Hoàng H, sinh ngày 01/4/2007 cho bà Bùi Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn ngư i không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đư c cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ngư i trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ngư i đó. Các bên có quyền thay đổi ngư i trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, n chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn bà Bùi Thị D phải nộp 300.000 đ ng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đư c khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đ nộp trước là 300.000 đ ng theo biên lai thu tiền số 0000683 ngày 17/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn đư c quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc ngày bản án đư c niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - T ND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Bù Đăng; - Chi cục TH DS huyện Bù Đăng; - Các đương sự; - Lưu h sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Thị Đào |