- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2021/HS-ST Ngày 31-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành và bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: Bà Mạc Thị Thuỷ - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Phùng Văn T, sinh năm 1968 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương;
Nơi cư trú: Khu dân cư Đ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Phùng Văn H (Đã chết) và bà Nguyễn Thị C; Vợ là Trương Thị C (Đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 02 ngày 18/02/2004 của TAND thành phố Chí Linh (nay là thành phố Chí Linh), tỉnh Hải Dương xử Phùng Văn T 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Bị bắt, tạm giữ ngày 20/9/2021, chuyển tạm giam ngày 22/9/2021 tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dương; Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến:
+ Anh Nguyễn Quang H, sinh ngày 28/8/2003;
Trú tại: KDC N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 2002;
Trú tại: KDC T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phùng Văn T là người sử dụng ma tuý. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/9/2021, Phùng Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu đen – bạc, biển số 34R1-1507 (xe T mượn của chị Trương Thị C – vợ đã ly hôn) đến khu vực cổng trường Đại học S, thuộc khu dân cư T, phường S, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương để mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. T gặp và mua 400.000đ của 01 người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch được 04 túi ma túy quận tròn trong khẩu trang y tế màu trắng. T để ma tuý tại vị trí giá để đồ phía trước xe mô tô, rồi điều khiển xe máy tìm nơi sử dụng. Khoảng 18 giờ 05 phút cùng ngày, khi T đi đến đầu ngõ số 1 đường H thuộc khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại vị trí giá để đồ phía trước xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu đen – bạc, biển số 34R1-1507: 01 khẩu trang y tế màu trắng, kích thước (17,5x10)cm, được quận tròn, bên trong chứa 01 túi nilon màu trắng, viền khoá màu xanh, đều có kích thước (2x2,5)cm; trong đó: 02 túi nilông bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì thư, đánh số “1”; 01 túi nilông bên trong chứa một gói giấy màu vàng, kích thước (0,7x1,5)cm; 01 túi nilông bên trong chứa một gói giấy màu trắng, kích thước (1,5x1)cm, bên trong các gói giấy đều chứa chất bột dạng cục màu trắng; được niêm phong trong phong bì thư, đánh số “2”. T khai đó là ma túy, tàng trữ để sử dụng cho bản thân.
Tại bản Kết luận giám định số 555/KLGĐ-PC09 ngày 23/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong 02 túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì đánh số “1” ghi thu của Phùng Văn T, gửi đến giám định tổng khối lượng là: 0,245 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Chất bột (dạng cục) màu trắng trong gói giấy màu vàng và gói giấy màu trắng được niêm phong trong phong bì đánh số “2” ghi thu của Phùng Văn T, gửi đến giám định tổng khối lượng là: 0,067 gam là ma túy, loại Hêrôin. Hoàn lại sau giám định là 0,229 gam ma túy loại Methamphetamine; 0,040 gam ma tuý loại Hêrôin và vỏ bao gói mẫu.
Tại bản Cáo trạng số 107/CT-VKS-CL ngày 22/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Phùng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phùng Văn T từ 16 - 19 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 20/9/2021. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ: 0,029gam ma tuý, loại Methamphetamine; 0,040gam ma tuý loại Hêrôin, 04 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh, 01 mảnh giấy màu vàng, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật đánh số “1” và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật đánh số “2”, được niêm phong trong phong bì số 555/KLGĐ-PC09, 01 khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng; Về án phí: Bị cáo Phùng Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 18 giờ 05 phút ngày 20/9/2021, tại đầu ngõ số 1 đường H thuộc khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Phùng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,245g ma túy, loại Methamphetamine và 0,067 gam ma túy, loại Hêrôin, với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an thành phố Chi Linh phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo tàng trữ 02 chất ma tuý loại Methamphetamine và loại Hêrôin, là hai chất được quy định trong cùng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Căn cứ vào Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma tuý tại một số điều của Bộ luật Hình sự 2015, thì tổng khối lượng bị cáo tàng trữ là: 0,245g + 0,067g = 0,312g (dưới 5g). Vì vậy, hành vi nêu trên của Phùng Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý trực tiếp mua ma túy về cất giữ bất hợp pháp để sử dụng thỏa mãn cơn nghiện. Hành vi của bị cáo đã góp phần làm cho tội phạm gia tăng, tiếp tay cho kẻ mua bán ma túy bất hợp pháp và làm mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích giáo dục, trừng trị bị cáo, đồng thời là tiếng chuông cảnh tỉnh, răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung cho các đối tượng ngoài xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 01 tiền án đã được xoá tích, nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, mua ma túy về sử dụng không bán lại nhằm mục đích kiếm lời, thu nhập không ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,029gam ma tuý, loại Methamphetamine và 0,040gam ma tuý loại Hêrôin, hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu huỷ theo quy định tại c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với 04 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh, 01 mảnh giấy màu vàng, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật đánh số “1” và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật đánh số “2”, 01 khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng, đều là công cụ phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu huỷ theo quy định tại a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với người bán ma túy cho T, chưa xác đình được nhân thân, lý lịch nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Chí Linh tiếp tục làm rõ xử lý sau. Đối với chị Trương Thị C cho T mượn xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu đen – bạc, biển số 34R1-1507, chị C không biết T mượn xe mô tô đi mua ma tuý, nên không có căn cứ để xử lý; Cơ quan CSĐT Công an thành phố Chí Linh đã trả lại xe mô tô cho chị C.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về biện pháp ngăn chặn: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án 31/12/2021 để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 1 Điều 329, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phùng Văn T 17 (Mười bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 20/9/2021. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án 31/12/2021 để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ: 0,029gam ma tuý, loại Methamphetamine; 0,040gam ma tuý loại Hêrôin, 04 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu xanh, 01 mảnh giấy màu vàng, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật đánh số “1” và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật đánh số “2”, được niêm phong trong phong bì số 555/KLGĐ-PC09, 01 khẩu trang màu trắng đã qua sử dụng (Toàn bộ vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/11/2021 giữa cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).
Về án phí: Buộc bị cáo Phùng Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS TP. Chí Linh; - Công an thành phố Chí Linh; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Luyến |