vanban.org

Bản án 127/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 24/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì sau giám định có số niêm phong số 392MT/PC09 và 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì sau giám định có số niêm phong số 393MT/PC09; 01 ví màu đen kích thước khoảng 4 x6 cm, 01 túi vải mà…

Trả lại bị cáo 01 điện thoại Nokia màu đen đã cũ. Trả cho anh Nguyễn Xuân L 01 điện thoại Iphone màu đen. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dong Thi Bich Thuy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì sau giám định có số niêm phong số 392MT/PC09 và 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì sau giám định có số niêm phong số 393MT/PC09; 01 ví màu đen kích thước khoảng 4 x6 cm, 01 túi vải mà…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2021/HS-ST
Ngày 24-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Bà Nguyễn Thị Mai

Thư ký phiên toà: Bà Ngô Trần Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 261/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Đồng Thị Bích T, sinh năm 1970 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 28/262 T, phường T, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Văn M và bà Lê Thị Đ (đều đã chết); có chồng: Nguyễn Xuân H và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 17/6/2021; bị tạm giam ngày 22/6/2021; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Xuân L, sinh năm 1994; nơi cư trú: Số 28/262 T, phường T, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 45’ ngày 17/6/2021, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng làm nhiệm vụ tại khu vực ngõ 262 T, phường T, quận Lê Chân, Hải Phòng, khi đến trước cửa nhà số 4/262 T phát hiện Đồng Thị Bích T có biểu hiện hoạt động tội phạm về ma túy. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện thu giữ tại túi quần bên phải T đang mặc có 01 ví màu đen kích thước 4 x 6 cm, bên trong ngăn giữa của ví có 03 gói giấy có hoa văn kích thước 0,5 x 2cm được buộc bằng chun nịt, mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy (mẫu số 01) và 05 gói giấy kích thước 0,5 x 2cm bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột dạng cục màu trắng nghi là ma túy (mẫu số 2), thu trong ngăn bên cạnh của ví 01 túi nilon màu trắng kích thước 3 x 4 cm có mép đóng mở màu xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (mẫu số 3). Ngoài ra, còn thu giữ của Thúy 01 túi đen dạng túi vải kích thước 25 x 20 x 10 cm bên trong ngăn túi phía ben trong có số tiền 1.900.000 đồng, thu trong ngăn giữa của túi vải số tiền 1.390.000 đồng, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone và 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia. Tổ công tác đã đưa T cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Cơ quan Công an lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã tiến hành khám xét chỗ ở của Thúy tại số 28/262 T phát hiện, thu giữ trong thùng nhựa dưới gầm bàn thờ tại gác xép tầng 02:

+ 01 túi nilon màu đen, bên trong có 09 bó gói giấy bằng dây nịt, trong đó:

- 08 bó có 10 gói giấy nhỏ kích thước 01 x 03 cm, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất chất bột màu trắng (tổng cộng có 80 gói); 01 bó gói giấy có 08 gói giấy nhỏ kích thước 01 x 03 cm, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất chất bột màu trắng (mẫu KX1).

- 01 túi nilon màu trắng kích thước 04 x 07 cm, mép viền đỏ bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục (mẫu KX2).

- 01 cân điện tử màu đen.

- 01 túi nilon màu đen chứa 100 cái nịt và 01 hộp dao lam.

- 01 túi nilon màu đen bên trong đựng 30 túi nilon màu trắng mép viền đỏ, kích thước 04 x 07 cm và 30 túi nilon màu trắng mép viền xanh, kích thước 03 x 03 cm.

Kết luận giám định số 392/KLGĐ-MT ngày 21/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng của mẫu số KX1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 15,40 gam, là loại: Heroine. Chất bột màu trắng của mẫu số KX2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,70 gam, là loại: Heroine.

Kết luận giám định số 393/KLGĐ-MT ngày 21/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,48 gam, là loại: Heroine. Chất bột màu trắng của mẫu số 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,80 gam, là loại: Heroine. Tinh thể màu trắng của mẫu số 3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,52 gam, là loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra Đồng Thị Bích T khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 01/5/2021, Đồng Thị Bích T đi từ nhà đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng với mục đích mua ma túy về bán lại kiếm lời. T đi từ chắn tàu trên đường Trần Nguyên Hãn dọc theo hành lang đường tàu hướng về chắn tàu trên đường Mê Linh, đến khu vực giữa hai chắn tàu thì T gặp và mua của 01 người nữ giới không quen biết (T chỉ biết phụ nữ đó tên gọi là H) 8.000.000 đồng ma túy được 04 túi nilon bên trong chứa Heroine dạng cục màu trắng và 01 túi nilon chứa 01 cục Heroine màu trắng và 01 túi nilon mép viền màu xanh bên trong chứa ma túy “đá”. T đem số ma túy trên về nhà, ngồi ở phòng ngủ tầng hai cắt các tờ lịch có in hoa văn nhiều màu có kích thước 04 x 04 cm. Sau đó T lấy ma túy ở 04 túi ni lon vừa mua được chia sang các mảnh giấy đã cắt, mỗi mảnh giấy gói 01 hoặc 02 cục nhỏ bán với giá từ 100.000 đồng đến 150.000 đồng tùy khách hỏi mua gói ít hay gói nhiều. T chia từ 04 túi nilon chứa các cục Heroine được khoảng 100 gói nhỏ, cứ 10 gói T dùng dây nịt buộc lại 01 bó, túi nilon chứa ma túy “đá” T dự định bán lại cho người hỏi mua với giá 200.000 đồng. Túi nilon chứa 01 cục Heroine còn lại T có ý định chia thành các cục nhỏ để bán lại sau. Tất cả số ma túy trên và 01 cân điện tử màu đen T cho vào trong 01 túi nilon màu đen. Các vỏ túi nilon nhỏ, dao tem, dây chun nịt T cho vào trong 01 túi nilon màu đen khác và cất giấu cả 02 túi nilon đen trên vào 01 thùng nhựa để dưới bàn thờ tại phòng ngủ của Thúy ở gác xép tầng 2. Đến sáng ngày 17/6/2021, T cầm 05 gói nhiều và 03 gói ít được buộc bằng dây nịt cùng 01 túi nilon đựng ma túy “đá” để ở trong ví màu đen kích thước 4 x 6 cm rồi cất ví vào túi quần bên phải đang mặc đi ra khu vực đầu ngõ 262 T để bán kiếm lời. Khoảng 07 giờ 45 phút, khi T đi đến khu vực trước cửa nhà số 4/262 T thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ như đã nêu trên. Từ ngày 01/5/2021 đến ngày 17/6/2021, T đã bán được cho 04 khách không quen biết với giá 130.000 đồng/01 gói. Số tiền bán ma túy T sử dụng vào việc ăn uống chi tiêu cá nhân. Số tiền 3.290.000 đồng thu giữ của T là tiền T bán nước mía và làm thuê mà có. Đối với chiếc điện Nokia là của T, còn thoại Iphone màu đen T mượn của con trai Nguyễn Xuân L.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Xuân L khai: Khoảng tháng 8/2020 anh có mua 01 điện thoại di động Iphone màu đen. Do mẹ anh là Đồng Thị Bích T chưa có điện thoại cảm ứng nên anh đã cho mẹ anh mượn sử dụng. Anh được biết mẹ anh bị bắt về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và cơ quan Công an thu giữ điện trên của anh, anh đề nghị cho anh xin lại để anh sử dụng.

Bản Cáo trạng số 128/CT-VKSLC ngày 28/10/2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố Đồng Thị Bích T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 20,38 gam, là loại Heroine và 0,52 gam, là loại Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời như đã khai tại cơ quan điều tra và cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Xuân L khai như đã khai tại cơ quan điều tra.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Đồng Thị Bích T và đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đồng Thị Bích T mức án từ 09 đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì sau giám định số 392MT/PC09 và 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì sau giám định số 393 MT/PC09; 01 ví màu đen kích thước khoảng 4 x 6 cm, 01 túi vải màu đen kích thước khoảng 25x20x10 cm, 01 thùng nhựa, 01 cân điện tử màu đen, 01 túi nilon màu đen bên trong có 30 vỏ túi nilon mép viền màu đỏ kích thước mỗi túi khoảng 4 x7 cm và 30 vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh kích thước khoảng 3 x 3 cm, 01 túi vải màu đen bên trong có 100 cái nịt và 01 hộp dao lam.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và số tiền 3.290.000 đồng.

Trả lại anh Nguyễn Xuân L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Vào hồi 07 giờ 45 phút ngày 17/6/2021 Đồng Thị Bích T đã có hành vi cất giữ trái phép ma túy có khối lượng 20,38 gam, là loại Heroine và 0,52 gam, là loại Methamphetamine mục đích để bán cho người khác kiếm lời và bị bắt quả tang tại khu vực ngõ 262 T, phường T, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng nên đủ cơ sở kết luận Đồng Thị Bíc phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy cần xử lý bắt cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Ngày 14/8/1998 bị cáo có hành vi Cướp tài sản công dân, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng ra Quyết định khởi tố vụ án khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 14/9/1998 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát đề nghị truy tố. Xác minh tại Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng: Sau khi ra soát kho lưu trữ không có vụ việc trên trong kho lưu trữ; xác minh tại Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng cung cấp: Không tìm thấy trường hợp nào có tên là Đồng Thị Bích T cùng đồng bọn Vũ Thị H bị xét xử về tội Cướp tài sản của công dân. Do vậy HĐXX không có cơ sở xác định bị cáo có tiền án.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì sau giám định có số niêm phong số 392MT/PC09 và 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì sau giám định có số niêm phong số 393MT/PC09; 01 ví màu đen kích thước khoảng 4x6 cm, 01 túi vải màu đen kích thước khoảng 25x20x10 cm, 01 thùng nhựa, 01 cân điện tử màu đen, 01 túi nilon màu đen bên trong có 30 vỏ túi nilon mép viền màu đỏ kích thước mỗi túi khoảng 4x7 cm và 30 vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh kích thước khoảng 3x3 cm, 01 túi nilon màu đen bên trong có 100 cái nịt và 01 hộp dao lam. Xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại Nokia màu đen đã cũ không liên quan đến việc phạm tội nên vào khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình trả lại bị cáo. Đối với số tiền 3.290.000 đồng thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí, số tiền còn lại trả cho bị cáo.

Đối với 01 điện thoại Iphone màu đen xác định chủ sở hữu là anh Nguyễn Xuân L không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho anh Nguyễn Xuân L.

Đối với nữ giới bán ma túy cho T, T khai chỉ biết tên là H, không biết lai lịch, địa chỉ. Ngoài ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không thu thập được tài liệu chứng cứ khác nên không có cơ sở điều tra làm rõ, HĐXX không xét.

Đối với lời khai của T về việc T đã bán ma túy cho 04 khách mua không quen biết từ ngày 01/5/2021 đến ngày 17/6/2021, ngoài lời khai của Thúy không còn chứng cứ nào khác nên HĐXX không đủ căn cứ kết luận những hành vi này.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đồng Thị Bích T 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17 tháng 6 năm 2021.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì sau giám định có số niêm phong số 392MT/PC09 và 01 phong bì niêm phong lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì sau giám định có số niêm phong số 393MT/PC09; 01 ví màu đen kích thước khoảng 4 x6 cm, 01 túi vải màu đen kích thước khoảng 25x20x10 cm, 01 thùng nhựa, 01 cân điện tử màu đen, 01 túi nilon màu đen bên trong có 30 vỏ túi nilon mép viền màu đỏ kích thước mỗi túi khoảng 4x7 cm và 30 vỏ túi nilon màu trắng mép viền màu xanh kích thước khoảng 3x3 cm, 01 túi nilon màu đen bên trong có 100 cái nịt và 01 hộp dao lam.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại Nokia màu đen đã cũ.

Trả cho anh Nguyễn Xuân L 01 điện thoại Iphone màu đen.

(Theo Biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng ngày 28 tháng 10 năm 2021 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân)

Tiếp tục tạm giữ số tiền 3.290.000 đồng thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án phần án phí, số tiền còn lại trả cho bị cáo.

(Theo giấy nộp tiền số 7085234 ngày 29 tháng 9 năm 2021 của Công an quận Lê Chân vào kho bạc Nhà nước quận Lê Chân)

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Xuân L được quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ