vanban.org

Bản án 127/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 12/05/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Việt sử.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông S yêu cầu bà T trả tiền nợ vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Việt sử.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2021/DS-ST
Ngày 12 - 5 – 2021
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Sơn.

Ông Bùi Minh Thiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 12 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2021/TLST- DS ngày 25 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2021/QĐXXST-DS, ngày 06 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm 1, thị t, huyện P, tỉnh C.

Bị đơn: Bà Dương Thị T, sinh năm 1964 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 26/01/2021, các văn bản kèm theo và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Việt S trình bày:

Vào ngày 16/8/2020 bà Dương Thị T có hỏi vay của ông với số tiền là 63.500.000 đồng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận. Thời gian thanh toán là ngày 16/9/2020. Quá trình vay tiền thì bà T có ký biên nhận nợ ngày 16/8/2020. Từ khi vay tiền bà T không trả tiền cho ông cũng không đóng lãi, ông có liên hệ yêu cầu trả tiền nhiều lần nhưng bà T không thực hiện và cứ hứa hẹn cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Dương Thị T trả cho ông với số tiền là 63.500.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Dương Thị T đúng quy định pháp luật. Nhưng bà Dương Thị T vắng mặt và không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1

Về thủ tục tố tụng:

Tranh chấp giữa ông Nguyễn Việt S với bà Dương Thị T được xác định là “Hợp đồng vay tài sản” là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bà Dương Thị T có nơi cư trú tại huyện Phú Tân thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ được quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Dương Thị T được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần, nhưng bà Dương Thị T không cung cấp chứng cứ và vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Dương Thị T.

Về nội dung tranh chấp:

Ông Nguyễn Việt S xác định giữa ông và bà Dương Thị T có thỏa thuận vay tiền cụ thể là vào ngày 16/8/2020 bà Dương Thị T có hỏi vay của ông với số tiền là 63.500.000 đồng, lãi suất hai bên tự thỏa thuận. Thời gian thanh toán là ngày 16/9/2020. Quá trình vay tiền thì bà T có ký biên nhận nợ ngày 16/8/2020.

Bà Dương Thị T có vay tiền của ông Nguyễn Việt S là thực tế xảy ra và để nợ quá hạn do bà T phải trả nợ gốc và lãi nhưng không thực hiện. Phía ông S đã nhiều lần yêu cầu bà T thực hiện nhưng bà T không thanh toán cho ông S. Ông S có cung cấp một Biên nhận nợ lập ngày 16/8/2020 có nội dung về việc vay tiền và bà Dương Thị T có ký tên đúng như ông S trình bày. Đối với bà Dương Thị T không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện và chứng cứ do ông Nguyễn Việt S cung cấp, bà Dương Thị T cũng không có yêu cầu phản tố. Do đó bà Dương Thị T phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông Nguyễn Việt S với số còn nợ là 63.500.000 đồng là có cơ sở.

Về lãi suất: Theo Biên nhận nợ ngày 16/8/2020 có chữ ký của bà Dương Thị T do ông S cung cấp thể hiện bà T cam kết đến ngày 16/9/2020 sẽ trả đủ tiền cho ông S. Như vậy bà T phải trả cho ông S là ngày 16/9/2020. Do bà T không thực hiện nghĩa vụ trả tiền như đã cam kết nên ông S yêu cầu bà T trả lãi chậm thực hiện nghĩa vụ là phù hợp với quy định tại điều 468 của Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tiền lãi được tính như sau: Lãi suất 10%/năm, lãi ngày là 0,028%, tiền lãi tính từ ngày 16/9/2020 đến ngày xét xử ngày 12/5/2021 là 07 tháng 26 ngày (63.500.000 đồng x 07 tháng 26 ngày x 0,028%) = 4.196.000 đồng. Như vậy tổng số tiền nợ gốc và lãi là 67.696.000 đồng.

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nay buộc bà Dương Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; nguyên đơn được hoàn lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 26; 35; 39, 147 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Việt sử. Buộc bà Dương Thị T phải trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 67.696.000 đồng (sáu mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi sáu nghìn đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Buộc bà Dương Thị T phải chịu 3.384.800 đồng (ba triệu ba trăm tám mươi bốn nghìn tám trăm đồng).

Ông Nguyễn Việt S đã nộp tạm ứng số tiền 1.588.000 đồng (một triệu năm trăm tám mươi tám nghìn đồng), tại biên lai thu tiền số 0012467 ngày 25/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, nay hoàn lại toàn bộ cho Nguyễn Việt S.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Ông Nguyễn Việt S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bà Dương Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ