- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn Văn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương V V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 127/2020/HS-ST Ngày 27/8/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Như Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Chinh Chiến và ông Nguyễn Thế Hiệu.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lý Hoàng Linh, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 129/2020/TLST-HS ngày 17/8/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2020/QĐXXST-HS ngày 17/8/2020 đối với bị cáo:
Trương V V: (tên gọi khác Trương Tiến V), Sinh năm 1980, tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Bản Co Phương, xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ V hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giớ i tinh: Nam; tôn giáo: Không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con
́ ông Trương Văn Q (Đã chết) và bà Trần Thị M; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 06/3/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, xử phạt 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã xóa án tích).
Ngày 23/12/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 30 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã xóa án tích).
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2020 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18h00 phút ngày 16/7/2020, tổ công tác Đồn biên phòng Chiềng Sơn phối hợp cùng ban Công an xã Chiềng Sơn huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại bản Co Phương, xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu, tiến hành kiểm tra đối với Trương V V đang đi bộ trên đường dân sinh. Phát hiện V đang cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc trên người 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng 18 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY nghi là ma túy tổng hợp và 07 cục chất bột màu trắng nghi là Heroine. V khai nhận đó là số ma túy của V cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân nghiện chất ma túy.
Về nguồn gốc số ma túy Trương V V khai nhận mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết ở bãi bằng thuộc bản Co Phương, xã Chiềng Sơn.
Căn cứ hành vi vi phạm của Trương V V, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và bàn giao Trương V V cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra, xử lý.
Mở rộng điều tra ngày 16/7/2020, Đồn biên phòng Chiềng Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trương V V thu giữ 01 gói ni lon màu xanh bên trong có 194 viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY nghi là ma túy tổng hợp và 35 gói ni lon màu trắng, vàng, xanh bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine V cất giấu tại chuồng gà.
Ngày 17/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số viên nén và chất bột màu trắng đã thu giữ tại người Trương V V cũng như số vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét cụ thể như sau.
Đối với 18 viên nén màu hồng có khối lượng 1,81, gam lấy 0,58 gam làm mẫu giám định, mẫu ký hiệu là V1.
Đối với 07 cục chất bột màu trắng có khối lượng là 0,41 gam, lấy 0,12 gam làm mẫu giám định, mẫu ký hiệu là V2.
Đối với 194 viên nén màu hồng có khối lượng là 19,1 gam, lấy 0,52 gam làm mẫu giám định, mẫu ký hiệu là V3.
Đối với 35 cục chất bột màu trắng có khối lượng 5,59 gam, lấy 0,25 gam làm mẫu giám định, mẫu ký hiệu là V4.
Tại kết luận giám định số 1199 ngày 20/7/2020 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu V1, V3 đều là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định V1 = 0,58 gam, V3 = 0,52 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu V2, V4 đều là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là V2 = 0,12 gam, V4 = 0,25 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 26,91 gam loại Methamphetamine và 6 gam loại Heroine”.
Bản cáo trạng số 127/CT-VKS ngày 17/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Trương V V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương V V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
1. Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương V V từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ Trương V V, bắt ngày 16/7/2020, bên trong đựng 19,81gam Methamphetamine và 5,63 gam Heroine, mảnh ni lon màu trắng, xanh, vàng và vỏ gói niêm phong ban đầu. 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy với Trương V V kết quả dương tính.
3. Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về hành vi: Ngày 16/7/2020, Trương V V có hành vi tàng trữ trái phép 26,91 gam Methamphetamine và Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ quy định tại Điều 4, chương II Nghị định số 19/2018/NĐ – CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng của các chất ma túy Heroine và Methamphetamine thu giữ của Trương V V là 6 gam Heronine + 19 gam Methamphetamine = 26,91 gam, mục đích tàng trữ, cất giấu là để sử dụng cho việc nghiện hút của bản thân. Như vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
Tại phiên toà, bị cáo giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm, nghiêm trọng cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện hút chất ma túy, đã có hai tiền án về tội cùng loại, tuy nhiên 02 tiền án đã được xóa án tích, nhưng không sửa chữa, tiếp tục phạm tội. Do đó cần phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian tương ứng với khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Về hình phạt bổ sung : Quá trình điều tra , xác minh và xét hỏi tại phiên toà thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng gì có giá trị. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ Trương V V, bắt ngày 16/7/2020, bên trong đựng 19,81gam Methamphetamine và 5,63 gam Heroine, mảnh ni lon màu trắng, xanh, vàng và vỏ gói niêm phong ban đầu. 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy với Trương V V kết quả dương tính, là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai, do bị cáo không biết tên tuổi, lai lịch người này nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Thờ i ha ̣n ta ̣m giam của bị cáo còn trên 45 ngày nên Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trương V V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Trương V V 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 16/7/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ Trương V V, bắt ngày 16/7/2020, bên trong đựng 19,81gam Methamphetamine và 5,63 gam Heroine, mảnh ni lon màu trắng, xanh, vàng và vỏ gói niêm phong ban đầu. 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy với Trương V V kết quả dương tính.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ( Đã ký) Đỗ Như Khánh |