- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Mạnh C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 127/2019/HS-ST Ngày: 03 – 6 – 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Lê Thị Thiện.
2/ Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh, Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, Tòa án nhân dân thị xã Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 127/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Đoàn Mạnh C, sinh năm 1992 tại tỉnh N; nơi cƣ trú: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông G (đã chết) và bà M, sinh năm 1973; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không có;
Bị bắt, tạm giam ngày 17/01/2019 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Ngọc T, có mặt.
- Ông Võ Thành T, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 17/01/2019 Đội cảnh sát điều tra về ma túy Công an thị xã T phối hợp với công an phƣờng L tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà không số trên bãi đất trống Khu phố Đ, phƣờng L, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Tại địa chỉ trên có hai nhân khẩu tạm trú là Đoàn Mạnh C và Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1996. Trong quá trình kiểm tra, C thừa nhận có sử dụng ma túy đá và tự nguyện giao nộp 01 túi nylong miệng kéo dính đƣợc hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng đƣợc cất giấu trong túi quần phía trƣớc bên phải của C. Lực lƣợng Công an tiến hành lập biên bản niêm phong tang vật, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và đƣa C về trụ sở Công an phƣờng L để làm việc.
Quá trình điều tra C khai nhận: C là ngƣời nghiện ma túy. Nguồn gốc ma túy bị Công an thu giữ là do C mua vào lúc 23 giờ 00 phút ngày 16/01/2019 của một ngƣời đàn ông tên L (không rõ nhân thân, địa chỉ) tại khu dân cƣ V thuộc phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng.
Vật chứng thu giữ gồm 01 (một) túi nylon miệng kéo dính hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi vấn là ma túy tổng hợp).
Theo kết luận giám định số 136/MT-PC09 ngày 25/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 (một) túi nylon miệng kéo dính hàn kín gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lƣợng 0,3389 gam.
Cáo trạng số 138/CT-VKS-TA ngày 09/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Đoàn Mạnh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đoàn Mạnh C từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 bì thƣ đã niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng ghi số vụ 136/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) là vật chứng trong vụ án.
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn, hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để đƣợc sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Mạnh C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố trƣớc Tòa. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của ngƣời làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 17/01/2019, tại căn nhà không số trên bãi đất trống thuộc khu phố Đ, phƣờng L, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng bị cáo Đoàn Mạnh C có hành vi tàng trữ trong túi quần bên phải 01 (một) túi nylon miệng kéo dính hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp). Qua giám định, xác định mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lƣợng 0,3389 gam.
Bị cáo C khai nhận số ma túy nêu trên là do bị cáo mua vào lúc 23 giờ 00 phút ngày 16/01/2019 của một ngƣời đàn ông tên L (không rõ nhân thân, địa chỉ) tại khu dân cƣ Việt – Sing thuộc phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T truy tố bị cáo Đoàn Mạnh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức đƣợc việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật Hình sự nhƣng bị cáo vẫn cố ý mua và cất giấu ma túy trong ngƣời nhằm mục đích sử dụng dần cho thỏa mãn cơn nghiện, hành vi của bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc đối với các chất ma tuý; thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên áp dụng Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên đƣợc chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng ghi số vụ 136/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) là vật chứng trong vụ án cần tịch thu, tiêu hủy;
Đối với Nguyễn Ngọc T có mối quan hệ chung sống nhƣ vợ chồng với bị cáo C từ năm 2014, không có đăng ký kết hôn, T không biết việc C cất giấu, sử dụng ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T không xử lý đối với T là đúng quy định.
Đối với đối tƣợng bán ma túy cho bị cáo C hiện không xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên sẽ xử lý ở một vụ án khác khi có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Mạnh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đoàn Mạnh C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 bì thƣ đã niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng ghi số vụ 136/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/5/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã T, tỉnh Bình Dương và Chi cục thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí: Bị cáo Đoàn Mạnh C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã T; - Chi cục THADS thị xã Tn; - Cơ quan CSĐT Công an thị xã T; - Cơ quan THAHS Công an thị xã T; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; những ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Ánh |