- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Duy Ph bị xét xử về tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ lu…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Duy Ph và sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 127/2018/HS-PT Ngày 27 - 6 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành;
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Xuân Đào;
Ông Nguyễn Thành Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2018/TLPT-HS ngày 09 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo Võ Duy Ph; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2018/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Nh.
- Bị cáo có kháng cáo: Võ Duy Ph, sinh năm 199X tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Ấp Ph, xã Ph, huyện Nh, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Hồng Nh và bà Nguyễn Thị Kh; vợ tên Võ Bé Th và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số: 118/L-CQCSĐT-HS ngày 21 tháng 9 năm 2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Nh; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Võ Duy Ph: Ông Đoàn Trọng Ng, Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Đoàn Trọng Ng – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/6/2017, sau khi đã uống rượu, Võ Duy Ph đi đến nhà của anh Lê Quang L, ngụ cùng ấp; để nói chuyện về việc anh L xây dựng nhà lấn chiếm lối đi vào nhà bà Huỳnh Thị L (bà nội của Ph). Trên đường đi đến nhà anh L, Ph thấy có 01 cây sắt dài khoảng 1m, đường kính 3cm ở ven đường nên lấy mang theo. Khi Ph gặp anh L nói chuyện thì dẫn đến hai bên xảy ra mâu thuẫn và đánh nhau bằng tay không. Thấy vậy, anh Lê Quang Tr, sinh năm 197X (cư trú tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh) đến can ngăn thì bị Ph dùng cây sắt mang theo đánh trúng vào hông trái anh Tr và gây thương tích. Anh L chạy đến giật lấy được cây sắt nên Ph bỏ về. Còn anh Tr được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa khu vực L.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0462/GĐPY/2017 ngày 30/8/2017 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đồng Nai, kết luận anh Lê Quang Tr bị thương tích như sau: Tổn thương dập phổi trái, ho ra máu, hiện để lại di chứng xơ nhu mô phổi sát màng phổi thùy dưới trái; tổn thương gãy cung sau xương sườn bên trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 28%. Kết luận khác: Vật gây thương tích là vật tày.
Vật chứng vụ án: 01 cây sắt dài 01m, đường kính 03cm.
Quá trình điều tra Võ Duy Ph đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và bồi thường cho anh Lê Quang Tr số tiền là 2.100.000 đồng. Anh Tr đã làm đơn bãi nại và không yêu cầu xử lý đối với Ph.
Tại Cáo trạng số: 140/CT/VKS-HS ngày 29/11/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nh đã truy tố bị cáo Võ Duy Ph về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm a, Khoản 2, Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Tr đề nghị áp dụng Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số: 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số: 12/2017/QH14, áp dụng Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điểm đ, Khoản 2, Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giải quyết có lợi cho bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 16 tháng tù đến 18 tháng tù.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2018/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2018 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số: 18/2018/TB-TA ngày 05 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Nh đã quyết định: Tuyên bố Võ Duy Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số: 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số: 12/2017/QH14, áp dụng Điểm b và Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điểm a, Khoản 1 và Điểm đ, Khoản 2, Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Võ Duy Ph 03 (ba) năm tù; thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
- Ngày 16 tháng 3 năm 2018, bị cáo Võ Duy Ph kháng cáo bản án sơ thẩm, cho rằng bị xử phạt nặng; đề nghị giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án, đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đối với các tình tiết bị cáo Võ Duy Ph trình bày tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo Võ Duy Ph trình bày:
Về tội danh, bị cáo Võ Duy Ph đã thừa nhận hành vi của mình; tuy nhiên, việc áp dụng tình tiết có tính chất côn đồ là không đúng; bởi vì, bản chất của bị cáo rất hiền lành, nhân thân tốt và rất lương thiện. Do đó, đề nghị xem xét lại tình tiết này.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Ph thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường và được bị hại bãi nại; ngoài ra, bị cáo phải lao động để nuôi vợ, 02 con còn nhỏ, 01 con sắp sinh và ông bà nội; bị cáo thiếu hiểu biết pháp luật; hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn; việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù sẽ ảnh hưởng rất lớn đến bị cáo và gia đình.
Từ những nội dung trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo Ph được hưởng án treo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Duy Ph khai nhận hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt đời thường, bị cáo đã có hành vi dùng cây sắt đánh trúng vào hông trái anh Lê Quang Tr, gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 28%, thể hiện tính chất côn đồ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định và xét xử bị cáo Ph về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm a và Điểm i, Khoản 1, Khoản 2, Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về áp dụng pháp luật
Về hành vi cố ý gây thương tích, theo quy định tại Điểm a và Điểm i, Khoản 1, Khoản 2, Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì hành vi của bị cáo Võ Duy Ph có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù; quy định này có lợi hơn cho bị cáo so với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Do đó, cấp sơ thẩm áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo để giải quyết vụ án là phù hợp.
Về hình phạt
- Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ, cụ thể bị cáo Ph thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại bãi nại; bị cáo có hai con còn nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm b và Điểm p, Khoản 1 và Khoản 2, Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; đã được cấp sơ thẩm xem xét khi quyết định hình phạt; việc xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù là tương xứng so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, xét hoàn cảnh của bị cáo Ph là rất khó khăn; có tình tiết mới là vợ bị cáo sắp sinh con thứ ba, bị cáo là lao động chính phải nuôi dưỡng nhiều người thân phụ thuộc. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo Võ Duy Ph.
Về án phí
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Ph kháng cáo được chấp nhận, không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Đối với phần trình bày của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận phần phù hợp.
Đối với phần trình bày của người bào chữa:
- Việc người bào chữa cho rằng bị cáo phạm tội không có tính chất côn đồ là không đúng; bởi vì, giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn nhưng bị cáo lại vô cớ dùng hung khí gây thương tích cho bị hại. Cấp sơ thẩm xác định tình tiết định khung này để xét xử bị cáo là phù hợp.
- Các nội dung khác người bào chữa trình bày phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Duy Ph và sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
1. Áp dụng Điểm a và Điểm i, Khoản 1, Khoản 2, Điều 104; Điểm b và Điểm p, Khoản 1 và Khoản 2, Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số: 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số: 12/2017/QH14; Khoản 3, Điều 7; Điểm a và Điểm i, Khoản 1 và Khoản 2, Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Võ Duy Ph 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy phương tiện công cụ phạm tội là 01 (một) cây sắt dài 01m, đường kính 03cm. Vật chứng này đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án huyện Nhơn Trạch theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 11 năm 2017.
3. Về án phí: Bị cáo Võ Duy Ph không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
4. Quyết định của bản án sơ thẩm về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Nh; - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Nh; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nh; - Tòa án nhân dân huyện Nh; - Bị cáo; - Bị hại (địa chỉ theo hồ sơ); - Người bào chữa; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nh; - Phòng PV 27 - Công an tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký và đóng dấu Nguyễn Văn Thành |