- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn S - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2026/HSST Ngày 25-8-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Túng và bà Thào Thị Chứ.
- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Viết Quý- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Máy- Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam Thuận Châu
- Bị cáo: Quàng Văn S- Sinh năm 2000.
- Người tham gia tố tụng khác: Ông Đinh Hải Châu, ông Sồng A Vàng - Cán bộ, chiến sỹ Phân trại tạm giam Thuận Châu. Có mặt.
Ngày 25 tháng 8 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2- Sơn La và tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Thuận Châu xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2026/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:
Quàng Văn S, tên gọi khác: Không; sinh ngày 02 tháng 6 năm 2000 tại xã Mường Sại, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản L, xã Q, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn M, sinh năm 1978 và bà Bạc Thị N, sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định số 31/QĐ- TA ngày 22 tháng 5 năm 2023 bị Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La (trước là Tòa án nhân huyện Quỳnh Nhai) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành là 16 (mười sáu) tháng, chấp hành xong Quyết định ngày 19/9/2024; nhân thân: Tại bản án số 88/2021/HSST ngày 09/7/2021 bị Tòa án nhân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La) xử phạt 22 (hai mươi hai) tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong án phạt tù ngày 04/11/2022); bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 28 tháng 5 năm 2026. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 05 phút ngày 28/5/2026, Tổ công tác Công an xã Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực Bản L, xã Q, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Quàng Văn S có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01(một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong có chứa chất bột cục màu trắng nghi là Heroine (theo Quàng Văn S khai là Heroine); 01 (một) chiếc bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng (theo Quàng Văn S khai là chiếc bật lửa Sơn dùng để sử dụng ma túy).
Hồi 15 giờ 20 phút ngày 28/5/2026, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định, kết quả: Số chất bột cục màu trắng nghi là Heroine bên trong gói giấy màu trắng có dòng kẻ có khối lượng 0,12 gam. Trích toàn bộ 0,12 gam, ký hiệu A1 gửi giám định.
Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu chuyển theo hồ sơ để lưu hồ sơ vụ án.
Cùng ngày 28/5/2026, Công an xã Quỳnh Nhai phối hợp với Trạm y tế xã Quỳnh Nhai tiến hành xét nghiệm chất ma túy bằng nước tiểu đối với Quàng Văn S thì phát hiện Quàng Văn S dương tính với chất ma túy. Quàng Văn S thừa nhận đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine bằng hình thức đốt hít ngày 27/5/2026.
Hồi 16 giờ 05 phút, cùng ngày 28/5/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La phối hợp với trạm Y tế xã Quỳnh Nhai đã tiến hành thu thập mẫu nước tiểu của Quàng Văn S làm mẫu gửi giám định để xác định chất, loại ma tuý mà Sơn đã sử dụng, ký hiệu T1.
Kết luận giám định số: 905/KL-KTHS ngày 02/6/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,12 gam.
Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 có chất ma túy, loại chất Morphine.
Mở rộng điều tra xác định được, Quàng Văn S là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy cụ thể: Theo Quyết định số 223/QĐ-UBND ngày 19/9/2024, Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú của Ủy ban nhân dân xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai (nay là ủy ban nhân dân xã Quỳnh Nhai), thời hạn quản lý từ ngày 19/9/2024 đến ngày 19/9/2026.
Ngày 02/7/2026, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tiến hành thực nghiệm điều tra để xác định hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Quàng Văn S. Kết quả như sau:
Thực nghiệm động tác sử dụng trái phép chất ma túy: Tại nhà vệ sinh của gia đình bị cáo Quàng Văn S, Sơn ngồi xổm tại vị trí gần bồn cầu, tay phải Sơn cầm gói ma túy được gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ và chiếc bật lửa gas màu đỏ cùng vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, Sơn dùng tay trái đặt gói ma túy xuống nền bê tông, sau đó mở bao thuốc lá xé lấy giấy bạc từ trong bao thuốc rồi đặt vỏ bao thuốc lá xuống nền bê tông, sau đó bật lửa gas hơ đốt cháy lớp giấy trên mảnh giấy bạc. Sơn mở gói ma túy ra rồi đổ một phần ma túy lên trên giấy bạc, rồi dùng chiếc bật lửa gas đốt thành khói rồi dùng miệng hít toàn bộ số ma túy đó, số ma túy còn lại Sơn gói lại bằng giấy màu trắng có dòng kẻ. Sau khi sử dụng ma túy xong Sơn dùng hai tay vò giấy bạc và vứt vào bồn cầu rồi ấn nút xả nước.
Các động tác được thực nghiệm phù hợp với lời khai của Quàng Văn S. Quá trình thực nghiệm đã tiến hành chụp ảnh, ghi hình, ghi nhận lại quá trình thực nghiệm điều tra.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:
Ngày 15/5/2026, Quàng Văn S đi làm thuê bắt xe khách để về xã Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La, khi Sơn đi đến khu vực cổng phụ bến xe khách Bắc Giang, Bắc Ninh thì gặp và hỏi mua được của một người nam giới (Sơn không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong có chứa Heroine với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Sơn cất giấu gói ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước bên phải đang mặc, rồi bắt xe khách về nhà. Đến khoảng 05 giờ 00 phút sáng ngày 16/5/2026 Sơn về đến nhà ở Bản L, xã Q, tỉnh Sơn La. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, Sơn vào nhà vệ sinh của gia đình trích ra một ít ma túy sử dụng bằng hình thức đốt hít. Sử dụng ma túy xong, mảnh giấy bạc Sơn vứt vào bồn cầu rồi ấn nút xả nước, số ma túy còn lại Sơn gói lại bằng giấy màu trắng có dòng kẻ rồi cất giấu dưới đệm đầu giường ngủ của Sơn cùng chiếc bật lửa ga. Đến khoảng 23 giờ 00 phút ngày 27/5/2026, Sơn tiếp tục đi vào nhà vệ sinh của gia đình trích ra một ít ma túy sử dụng bằng hình thức đốt hít. Sử dụng ma túy xong, mảnh giấy bạc Sơn vứt lại vào bồn cầu rồi ấn nút xả nước, số ma túy còn lại Sơn tiếp tục gói lại bằng giấy màu trắng có dòng kẻ rồi cất giấu dưới đệm đầu giường ngủ của Sơn cùng chiếc bật lửa ga. Đến ngày 28/5/2026, Sơn đang ở nhà thì bị tổ công tác Công an xã Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La đến yêu cầu kiểm tra ma túy thì bị phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng.
Tại bản Cáo trạng số: 67/CT- VKS-KV2 ngày 06 tháng 8 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La đã truy tố bị cáo Quàng Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Quàng Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Sử dụng trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn S từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn S phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn S từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự:
Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo Quàng Văn S phải chấp hành là: 05 (năm) năm tù đến 05 (năm) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2026.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
Một phong bì niêm phong số 0089026 bên trong có 01 (một) mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ;
Một phong bì niêm phong số 0074208 bên trong có 01 (một) chiếc bật lửa gas màu đỏ.
Lưu hồ sơ vụ án theo quy định: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn S.
Tại phiên tòa, bị cáo Quàng Văn S thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Căn cứ xác định tội danh:
Ngày 28/5/2026 bị cáo Quàng Văn S đã có hành vi cất giữ trái phép 0,12 gam chất ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại nhà ở Bản L, xã Q, tỉnh Sơn La. Cùng ngày 28/5/2026, Công an xã Quỳnh Nhai phối hợp với Trạm y tế xã Quỳnh Nhai tiến hành xét nghiệm chất ma túy bằng nước tiểu đối với Quàng Văn S thì phát hiện Quàng Văn S dương tính với chất ma túy. Quàng Văn S thừa nhận trong ngày 16/5/2026 và ngày 27/5/2026 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine bằng hình thức đốt hít.
Quàng Văn S là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy, cụ thể: Theo Quyết định số 223/QĐ-UBND ngày 19/9/2024, Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú của Ủy ban nhân dân xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai (nay là ủy ban nhân dân xã Quỳnh Nhai), thời hạn quản lý từ ngày 19/9/2024 đến ngày 19/9/2026.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 28/5/2026; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh thực nghiệm điều tra; Kết luận giám định số: 905/KL-KTHS ngày 02/6/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.
Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,12 gam chất ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine trong người với mục đích để sử dụng của bị cáo Quàng Văn S đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Quàng Văn S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine bằng hình thức đốt hít, bị cáo là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy đã phạm vào tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có ông nội được Bộ tư lệnh quân khu 2 chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự chưa được xóa và 01 tiền án đã được xóa án tích.
Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo Quàng Văn S bị xét xử cùng một lần phạm nhiều tội. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo Quàng Văn S không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01(một) mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ là vật không có giá trị, không sử dụng được; 01 (một) chiếc bật lửa ga màu đỏ là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, vật không có giá trị, không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được lưu hồ sơ vụ án theo quy định của pháp luật.
Về vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Quàng Văn S khai mua của một người nam giới không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực cổng phụ bến xe khách Bắc Giang, Bắc Ninh vào ngày 15/5/2026. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc bị cáo Quàng Văn S phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ. Và Cơ quan CSĐT công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để xử lý đối với người nam giới trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Quàng Văn S là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn S.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn S 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn S phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn S 02 (hai) năm tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự:
Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo Quàng Văn S phải chấp hành là 05 (năm) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/5/2026.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
Một phong bì niêm phong số 0074208 bên trong có 01 (một) chiếc bật lửa gas màu đỏ, đã qua sử dụng.
Một phong bì niêm phong số 0089026 bên trong có 01 (một) mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ;
(Mô tả chi tiết theo Lệnh nhập kho vật chứng số D342/LNK-CSMT ngày 28/5/2026 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn S.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Quàng Văn S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 2- Sơn La (02 bản); - Công an tỉnh Sơn La; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn La; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2- Sơn La; - Trại tạm giam; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |