vanban.org

Bản án 126/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 25/06/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: ĐOÀN HỒNG G, TRẦN THẾ L phạm Tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Áp dụng: Điều 251 khoản 2 điểm b; khoản 1 Điều 38; Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự; 1. Xử phạt: ĐOÀN HỒNG G 08 (TÁM) năm tù về Tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: ĐOÀN HỒNG G, TRẦN THẾ L phạm Tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2025/HSST
Ngày 25 tháng 6 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà - Thẩm phán. Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thiên Thuận và Ông Nguyễn Văn Kình

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Chi - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:

Bà Phan Thị Hạnh Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025, đối với:

1. Bị cáo: Đoàn Hồng G. Sinh năm: 1983. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT: Số 11 ngõ 23 L 2, phường N, quận L, Hà Nội. Nơi ở: Phòng 409 số 16 N, phường B, quận L, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên cha: Đoàn Hồng N, Đã chết. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1957. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai. Tình trạng hôn nhân: Đã ly hôn. Có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2007.

Danh chỉ bản số 004 lập ngày 10/01/2025 tại Công an quận Hoàn Kiếm

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: 02 tiền sự (ngoài thời hiệu), 02 tiền án (án tích đã xóa);

- Năm 2009 và 2013 bị xử phạt hành chính về hành vi Chống người thi hành công vụ và Cố ý gây thương tích;

- Ngày 24/12/2001: Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 10 tháng cải tạo không giam giữ về tội Chống người thi hành công vụ (AS: 230/HSST). Xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm: Đã nộp án phí HSST 200.000đ theo biên lai 17186 ngày 11/8/2009 - Án tích đã xóa

- Ngày 24/11/2011: Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 08 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (AS: 310/HSST). Xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm: Đã nộp án phí HSST 200.000đ theo biên lai 2951 ngày 24/11/2011

- Án tích đã xóa

Tạm giữ: 04/01/2025 Tạm giam: 13/01/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam trại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội;

2. Bị cáo: Trần Thế L. Sinh năm: 1993. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT: Thôn 4, xã B, huyện B, Hà Nam. Nơi ở: Số 73 H, phường C, quận H, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Điều Dưỡng. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên cha: Trần Thế H – sinh năm: 1969. Họ tên mẹ: Trần Thị N – sinh năm: 1971. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất. Tình trạng hôn nhân: Đã ly hôn. Có 01 con sinh năm 2020.

Danh chỉ bản số 003 lập ngày 10/01/2025 tại Công an quận Hoàn Kiếm

Tiền án, tiền sự: Không

Tạm giữ: 04/01/2025 Tạm giam: 13/01/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam trại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội:

(Các Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 03/01/2025 tổ công tác Công an phường Đ đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, phòng chống tội phạm trên địa bàn. Khi đến số 185 P, phường H1, quận H, Hà Nội, tổ công tác phát hiện Trần Thế L có biểu hiện nghi vấn. Quá trình kiểm tra, L lấy từ trong túi áo khoác bên phải đang mặc ra 02 túi nilong màu trắng có kẻ viền màu đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng và khai nhận là ma túy “đá” đang đi bán cho khách. Tổ công tác đã tiến hành tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa L cùng tang vật về trụ sở cơ quan Công an để xác minh làm rõ.

Thu giữ của Trần Thế L:

- 01 túi ni lông màu trắng kẻ viền túi màu đỏ kích thước 2x2cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.

- 01 túi ni lông màu trắng kẻ viền túi màu đỏ kích thước 1,5x1,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.

- Tiền mặt: 200.000 đồng gồm có cách mệnh giá 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng.

- 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6s Plus màu vàng có số Imei: 355757074726767; lắp sim số: 0879292359 (đã qua sử dụng). Kiểm tra điện thoại có nội dung trao đổi mua bán ma túy.

Cơ quan CSĐT tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Thế L tại số 73 H, phường C, quận H, Hà Nội không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 423 ngày 12/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: Tang vật thu giữ của Trần Thế L khi bắt quả tang: Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilong đều là ma túy loại Methamphetaine, tổng khối lượng 0,883 gam (BL: 36)

Quá trình đấu tranh, Trần Thế L khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là L mua của Đoàn Hồng G ở B, L, Hà Nội. Tổ công tác đã dẫn giải L đi chỉ địa điểm mua ma túy: Khoảng 0 giờ 45 phút ngày 04/01/2025 khi đang tiến hành dẫn giải Trần Thế L xác định vị trí nơi giao dịch mua bán ma túy với G thì phát hiện Đoàn Hồng G đang đi bộ đến số nhà 52 - 54 ngõ 12 phố B, phường B, quận L, Hà Nội. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, tại chỗ G đã tự nguyện lấy từ trong túi áo khoác bên trái ra 01 túi ni lông màu trắng kẻ viền túi màu đỏ kích thước 4x7cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 túi ni lông màu trắng kẻ viền túi màu đỏ kích thước 3x6cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, G khai nhận tinh thể màu trắng chứa trong các túi ni lông là ma túy “đá”, G mang theo trong người khi có người liên hệ để mua ma túy thì G sẽ bán, tự nguyện giao nộp 01 bộ coong thủy tinh có gắn đầu ống hút bằng nhựa màu trắng (đầu coóng còn tinh thể màu trắng) và chiếc điện thoại Iphone màu xám trong có số thuê bao: 0934343419 (có nội dung tin nhắn liên quan đến việc mua bán ma túy). Tổ công tác Công an phường Đ tạm giữ, niêm phong tang vật trên.

Sau đó tổ công tác dẫn giải Đoàn Hoàng G lên phòng số 409 (tầng 4) số nhà 16 N. Khi G gõ cửa cửa phòng thì có Trần Trung K (SN: 1981; Nơi TT: 25 Ngõ 2 V, K, B, Hà Nội; Nơi ở: Số 1A ngách 77 ngõ 293 N, L, Hà Nội) ra mở cửa. Khám xét nơi G ở, G đã tự nguyện giao nộp tại hốc bàn gỗ (đối diện với cửa ra vào căn phòng) lấy ra: 01 túi ni lông màu trắng kẻ viền túi màu đỏ kích thước 10x15cm trong có 01 viên nén hình tròn màu xanh; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đ (một nghìn đồng) được gấp gọn bên trong chứa tinh thể màu trắng; 20 vỏ túi ni lông màu trắng kẻ viền túi màu đỏ kích thước 2x2cm (chưa qua sử dụng); 20 vỏ túi ni lông màu trắng kẻ viền túi màu đỏ kích thước 1,5x1,5cm (chưa qua sử dụng); 01 bộ coong thủy tinh có gắn đầu ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 chiếc cân điện tử màu đen có nhãn “Pocket Scale” kích thước 7x12cm (đã qua sử dụng). Tổ công tác tiến hành tạm giữ, niêm phong tang vật, đưa Đoàn Hồng G, cùng Trần Trung K về trụ sở công an phường B xác minh làm rõ.

Tại Kết luận giám định số 458 ngày 13/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận tang vật thu giữ của Đoàn Hồng G gồm:

Tang vật khi bắt quả tang:

+ Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi ni lông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 2,576 gam .

+ 01 bộ tẩu hút tự tạo có dính ma túy loại Methamphetamine.

Tang vật khi khám xét khẩn cấp:

+ 01 viên nén hình tròn màu xanh bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,067 gam.

+ Chất bột màu trắng bên trong 01 tờ tiền mệnh giá 1000đ được gấp gọn là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,069 gam .

+ 01 cân điện tử màu đen và 01 bộ tẩu hút tự tạo đều có dính ma túy loại Methamphetamine.

Thu giữ của Trần Trung K:

- 01 chiếc điện thoại Redmi Note 11 Pro 5G màu đen; số imei 1: 864451051377604/01; số imei 2: 864451051377612/01; số thuê bao 1: 0915669820; số thuê bao 2: 0961173738 (đã qua sử dụng)

- 01 chiếc xe mô tô Honda wave S màu xanh BKS: 29G1 – 27447; số khung: RLHJC521XCY336534; số máy: HC52E-4514402 (đã qua sử dụng)

Tại Cơ quan điều tra, Trần Thế L khai nhận: Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 03/01/2025, L được một người bạn xã hội tên Hải dùng số điện thoại 0362778955 gọi điện cho L vào số 0879293959 và nhờ L mua ma túy đá. L đồng ý và đi đến lòng đường trước cửa nhà số 185 P, phường H1, quận H, Hà Nội, Hải đưa cho L 1.200.000 đồng và bảo L đi mua hộ 1.000.000 đồng ma túy đá, L đồng ý. L cầm tiền đi xe taxi (không nhớ BKS) sang địa chỉ số 48/12 B, L, Hà Nội để gặp Đoàn Hồng G (bạn xã hội) để mua ma túy “đá”. Đến nơi, L nói với lái xe taxi chờ ở ngoài, L dùng điện thoại gọi cho G số 0934343419 (L lưu trong danh bạ tên “Ông Bô”) để nói với G mở cửa nhà. Sau đó, G đưa L lên phòng tầng 4, L đưa cho G 300.000 đồng (tiền mua ma túy là 700.000 đồng, nợ lại 400.000 đồng do số tiền trên L đã dùng trả nợ hết, giữ lại 200.000 đồng), G đưa cho L 02 túi ni lông chứa ma túy “đá”. L để 02 túi ma túy “đá” vào trong túi áo khoác bên phải và lên xe taxi về đến phố P. L dừng xe ở phố H1 rồi đi bộ từ phố H1 đến 185 P thì L bị lực lượng Công an phường Đ kiểm tra, bắt giữ như nêu trên. Tiến hành xét nghiệm ma túy, L dương tính với ma túy Methamphetamine. Số tiền 200.000 đồng thu giữ của L là do bán ma túy mà có.

Đoàn Hồng G khai nhận: Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 03/01/2025 Trần Thế L có nhắn tin cho G qua ứng dụng Zalo L có tên là “Gió” (ảnh đại diện là chữ G hình nền màu hồng) hỏi mua 1g và chia tỷ lệ 73 (cả hai tự hiểu với nhau 1g là 1 gam ma túy đá, chia 7 - 3 là chia 1 gam ma túy đá ra làm 2 túi với 1 túi tỷ lệ 7 và 1 túi tỷ lệ 3). G và L không báo giá mua bán qua tin nhắn (do quen biết nhau). G lấy 01 vỏ túi ni lông màu trắng kẻ túi màu đỏ kích thước 2x2cm và 01 vỏ túi ni lông màu trắng kẻ túi màu đỏ kích thước 1,5x1,5cm rồi cho ma túy “đá” theo tỷ lệ trên vào 2 túi ni lông. Khoảng 40 phút sau, không biết L đi gì đến rồi G xuống đón L ở cổng và đưa lên phòng số 409 số 16 N, phường B, quận L, Hà Nội. G đưa cho L 02 túi ni lông chứa ma túy “đá”, L đưa G 300.000 đồng tiền mặt gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Thời điểm giao dịch mua bán ma túy giữa G và L có Trần Trung K biết và chứng kiến. Sau khi có được ma túy đá, G đưa L xuống nhà (ra đầu ngõ) rồi quay lại lên phòng. Vào khoảng 0 giờ 45 phút ngày 04/01/2025 khi G tiếp tục cất giấu ma túy và đang đi bộ bán ma túy cho người hỏi mua, đến lòng đường trước cửa nhà 52 – 54 ngõ 12 phố B, phường B, quận L, Hà Nội thì bị tổ Công an phường Đ kiểm tra bắt giữ như nêu trên. G mua ma túy đá, hồng phiến, ketamine từ một người đàn ông khoảng 50 tuổi, dáng người lùn béo, cao khoảng 1,60 mét (G có hỏi tên và xin thông tin liên lạc từ người đàn ông này, nhưng người đàn ông này không cung cấp). Mỗi lần G có nhu cầu sử dụng hoặc cần mua ma túy để bán cho người khác thì vào khoảng chiều tối sẽ ra khu vực bến xe L, phường N, quận B, Hà Nội, người đàn ông này hay mang mặc quần áo grab, mỗi lần gặp đều đeo khẩu trang nên khó nhận dạng. G và Trần Trung K là bạn bè xã hội, quen biết nhau khoảng 2 năm nay. Vào ngày 03/01/2025 và 04/01/2025, K đến nhà để đòi T, do G nợ K 1.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân, do quá hẹn không có tiền trả, K ở nhà G chờ G có tiền để trả thì K mới ra về (do G khất hẹn nhiều lần chưa trả được). K chứng kiến toàn bộ sự việc giao dịch mua bán ma túy giữa G và L, nhưng K chơi điện tử, không quan tâm đến chuyện của G và L. Tiến hành xét nghiệm ma túy, G dương tính với ma túy Methamphetamine. Đối với số ma túy thu giữ tại nhà Đoàn Hồng G, G khai chỉ dùng để sử dụng, do chưa đủ lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với G về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Như vậy, tổng khối lượng ma túy mà Đoàn Hồng G phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy là 3,459 gam ma túy loại Methamphetamine.

Trần Trung K khai: Qua các mối quan hệ xã hội, K có quen biết một người bạn tên là Đoàn Hồng G (SN: 1983 nhà ở 16 N, B, L, Hà Nội). Cách đây khoảng 1 tuần, G có vay K 1.000.000 đồng nhưng K đã đòi nhiều lần nhưng G chưa trả. Khoảng 12 giờ ngày 03/01/2025, K đi xe máy Honda Wave S màu xanh BKS: 29G1-274.47 đến nhà G và gọi điện vào số điện thoại của G là 0934343419 để đòi tiền. G đi từ trong nhà ra và dẫn K lên phòng ở của G tại phòng 409 (tầng 4) nhà số 16 N, B, L, Hà Nội. Khi lên phòng thì có một mình G ở nhà. K và G ngồi ăn uống với nhau, G bảo với K rằng chưa có tiền để trả cho K. Quá trình ngồi ăn uống, K thấy G có nghe điện thoại và nhắn tin cho ai đó và bảo đến thì gọi để G xuống đón. Khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, G đi từ phòng xuống và dẫn lên một nam thanh niên khoảng 30 tuổi (về sau G nói với K anh ta tên là L - là một người em xã hội của G). Tại phòng 409, K thấy L đưa cho G 300.000 đồng tiền mặt gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. G bán cho L 02 túi ni lông màu trắng có kẻ viền đỏ bên trong đều chứa ma túy đá. Sau đó, G lại đưa L xuống dưới nhà để L về. K tiếp tục ngồi ăn uống với G và sử dụng điện thoại chơi điện tử. Do K đang thiếu ngủ và vợ chồng K đang cãi nhau nên K có nằm ngủ lại tại nhà G. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, K định dậy lấy xe ra về thì không thấy G đâu, K gọi điện cho G thì G bảo đi ra ngoài có việc một lát nữa mới về. Do cửa tầng 1 nhà G là cửa sử dụng khóa vân tay nên K chưa về được và ở lại trông phòng cho G chờ G về. K ngồi chờ G đến khoảng 01 giờ ngày 04/01/2025 thì có lực lượng Công an kiểm tra như nêu trên. Tiến hành xét nghiệm ma túy, K dương tính với ma túy Methamphetamine và Heroine. Quá trình điều tra xác định, K không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Đoàn Hồng G, có sử dụng ma túy ở nơi khác nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý hành chính đối với K về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy và có Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho K: 01 chiếc điện thoại Redmi Note 11 Pro 5G màu đen; số imei 1: 864451051377604/01; số imei 2: 864451051377612/01; số thuê bao 1: 0915669820; số thuê bao 2: 0961173738 (đã qua sử dụng); 01 chiếc xe mô tô Honda wave S màu xanh BKS: 29G1 – 27447; số khung: RLHJC521XCY336534; số máy: HC52E-4514402 (đã qua sử dụng).

Về đối tượng mua ma túy của Trần Thế L, L khai chỉ biết tên Hải sử dụng số điện thoại 0362778955, căn cứ Công văn số 1745 ngày 18/02/2025 của Tập đoàn công nghiệp – viễn thông quân đội xác định: Chủ đăng ký số thuê bao 0362778955 mang tên Công ty TNHH Gỗ NKC (Địa chỉ: thôn Y, Y, G, Hà Nội). Xác minh tại Công an xã Y, huyện G, Hà Nội xác nhận trên địa bàn xã không có Công ty TNHH Gỗ NKC nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh xử lý.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho G, G khai không biết tên tuổi, địa chỉ, Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải G đến địa điểm mua ma túy, rà soát camera nhưng không xác định được nên không có điều kiện để xác minh xử lý.

Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 22 tháng 5 năm 2025 đã truy tố Đoàn Hồng G tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 2 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự và đã truy tố Trần Thế L tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các Bị cáo khai nhận như khai tại Cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Đoàn Hồng G tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 2 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự và đã truy tố bị cáo Trần Thế L tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ Luật Hình sự là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ quyền công tố sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo bản cáo trạng đã ban hành, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

+ bị cáo Đoàn Hồng G phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Không áp dụng hình phạt phụ là phạt tiền vì bị cáo nghề nghiệp không ổn định.

+ bị cáo Trần Thế L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 32 tháng đến 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Không áp dụng hình phạt phụ là phạt tiền vì bị cáo nghề nghiệp không ổn định.

+ Đề nghị tịch thu sung công quỹ tài sản đã thu giữ của các bị cáo 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xám, đã qua sử dụng, 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6S màu vàng, đã qua sử dụng; số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Đoàn Hồng G; Truy thu số tiền 300.000 đồng đối với bị cáo G, số tiền 700.000 đồng đối với bị cáo L là số tiền có được do hành vi phạm tội mà có. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy, sim điện thoại 02 sim điện thoại số 0879292359 và số 0934343419; bộ tẩu hút, cân điện tử, vỏ túi ny lông thu giữ của bị cáo G. Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng Nghị án, các bị cáo được nói lời sau cùng, bị cáo G, L trình bày bản thân nhận thức được hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo là phạm tội, xin hứa không tái phạm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng khác của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14 giờ 50 phút, ngày 03/01/2025, Trần Thế L đang thực hiện hành vi mang 0,883 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán trái phép với giá 1.200.000 đồng (đã nhận tiền mặt) thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật tại khu vực trước cửa số nhà 185 P, phường H1, quận H, Hà Nội. Về nguồn gốc số ma túy trên, Trần Thế L mua của Đoàn Hồng G với giá 700.000 đồng (L đã thanh toán 300.000 đồng cho G) tại khu vực số phòng số 409 số 16 N, phường B, quận L, Hà Nội ngày 03/01/2025. Đến khoảng 0 giờ 40 phút ngày 04/01/2025, Đoàn Hồng G tiếp tục mang 2,576 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm bán trái phép thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật tại khu vực số nhà 52-54 ngõ 12 phố B, phường B, quận L, Hà Nội. Như vậy, tổng khối lượng ma túy mà Đoàn Hồng G phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy là 3,459 gam ma túy loại Methamphetamine.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Các Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì hám lợi, nghiện ngập nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn, tuy nhiên hành vi bị cáo G có tính chất đầu mối trong thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Các Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo L được Bộ trưởng Bộ Y tặng Bằng khen năm 2021, Chủ tịch UBND tỉnh B tặng Bằng khen năm 2021, Chủ tịch UBND tỉnh T tặng Bằng khen năm 2021 về thành tích xuất sắc trong hỗ trợ phòng, chống dịch dịch bệnh… Covid là tình tiết được HĐXX xem xét là tình tiết giảm nhẹ.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không có.

Về quyết định hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội bị các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại, đảm bảo tính công minh của pháp luật; cách ly người phạm tội với môi trường xã hội, phòng ngừa, ngăn chặn không để họ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; răn đe những người có ý định phạm tội góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự của đất nước. Hơn nữa, bị cáo được giáo dục cải tạo, giúp bị cáo nhận thức rõ tội lỗi, hành vi vi phạm pháp luật, khắc phục, sửa chữa những thói quen, hành vi của bản thân không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội; ăn năn, hối cải, tích cực lao động, học tập, cải tạo, xây dựng nhận thức, tình cảm đúng đắn, định hướng được các giá trị, chuẩn mực về đạo đức, lối sống của công dân để khi trở về địa phương, họ sẽ trở thành những công dân có ích cho xã hội.

Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt phụ bổ sung: Các Bị cáo nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về Biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy: số ma túy đã thu giữ; 02 sim điện thoại số 0879292359 và số 0934343419; 02 bộ tẩu hút tự tạo, cân điện tử, vỏ túi ni lông.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xám, đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6S màu vàng, đã qua sử dụng; số tiền 200.000 đồng.

- Truy thu số tiền 300.000 đồng đối với bị cáo G, 700.000 đồng đối với bị cáo L là số tiền có được do hành vi phạm tội mà có.

Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Án phí hình sự: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: ĐOÀN HỒNG G, TRẦN THẾ L phạm Tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

2. Áp dụng: Điều 251 khoản 2 điểm b; khoản 1 Điều 38; Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự;

2.1. Xử phạt: ĐOÀN HỒNG G 08 (TÁM) năm tù về Tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2025.

3. Áp dụng: Điều 251 khoản 1; khoản 1 Điều 38; Điều 47, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự;

3.1. Xử phạt: TRẦN THẾ L 42 (BỐN MƯƠI HAI) tháng tù về Tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2025.

4. Biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Trần Thế L, giám định viên Nguyễn Văn Hùng, người chứng kiến Phạm Duy T, cán bộ Nguyễn Văn N và hình dấu Công an phường Đ bên trong có ma túy thu giữ của Trần Thế L: 01 túi nilong màu trắng kẻ viền túi màu đỏ kích thước 2x2cm và 01 túi nilong màu trắng kẻ viền túi màu đỏ kích thước 1,5x1,5cm bên trong chứa Methamphetamine, tổng khối lượng 0,883 gam (PC 09 trích mẫu 0,135 gam, còn lại 0,748 gam);

+ 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Đoàn Hồng G, giám định viên Nguyễn Hoàng H, người chứng kiến Trần Trung K, cán bộ Nguyễn Văn N và hình dấu Công an phường Đ bên trong có ma túy thu giữ của Đoàn Hồng G: 01 túi nilong màu trắng kẻ viền túi màu đỏ kích thước 4x7cm và 01 túi nilong màu trắng kẻ viền túi màu đỏ kích thước 3x6cm bên trong chứa Methamphetamine, tổng khối lượng 2,576 gam (PC 09 trích mẫu 0,175 gam, còn lại 2,401 gam);

+ 02 sim điện thoại số 0879292359 và số 0934343419;

+ 02 bộ tẩu hút tự tạo bằng thủy tinh, 01 chiếc cân điện tử màu đen;

+ 20 vỏ túi ni lông màu trắng kẻ viền màu đỏ kích thước 2x2cm (chưa qua sử dụng) kích thước (1,5x1,5cm);

+ 20 vỏ túi ni lông màu trắng kẻ viền màu đỏ kích thước 2x2cm (chưa qua sử dụng) kích thước (2x2cm)

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xám, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 6S màu vàng, đã qua sử dụng;

+ số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Đoàn Hồng G;

- Truy thu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đối với bị cáo G, 700.000 đồng (Bẩy trăm nghìn đồng) đối với bị cáo L là số tiền có được do hành vi phạm tội mà có.

Số vật chứng trên hiện giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 25/6/2025 và Giấy nộp tiền mặt số tiền 200.000 đồng vào ngày 25/6/2025 vào tài khoản của Chi Cục Thi hành án dân quận Hoàn Kiếm tại Kho bạc Nhà nước.

5. Án phí: Mỗi Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Các Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ