vanban.org

Bản án 126/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T về việc “Ly hôn” đối với ông Nguyễn Hoàng A.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng A. Về quyền nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Thu T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Nguyễn Thái T1, sinh ngày 21/3/2014 và Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 15/7/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu T ly hôn Nguyễn Hoàng A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T về việc “Ly hôn” đối với ông Nguyễn Hoàng A.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2025
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Ghên;

2. Bà Lại Thị Thu Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bình Em –Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 87/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1991;

Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: Ấp L, xã A, tỉnh Tây Ninh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1986;

Chứng minh nhân dân: xxxxxxxxx

Địa chỉ: Ấp L, xã A, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/7/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày tóm tắt như sau:

Bà và ông Nguyễn Hoàng A quen biết, được gia đình hai bên đồng ý nên xác lập quan hệ hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã A, tỉnh Tây Ninh) ngày 25/6/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2020, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là ông Hoàng A nghỉ việc không đi làm, suốt ngày say sỉn đánh đập bà nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài nên bà xin Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hoàng A.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống bà T và ông Hoàng A có 02 con chung tên Nguyễn Thái T1, sinh ngày 21/3/2014 và Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 15/7/2018. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Nguyễn Thái T1 và Nguyễn Ngọc Gia H, không yêu cầu ông Hoàng A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thu T xác định không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu T xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai ngày 19/8/2025, bị đơn ông Nguyễn Hoàng A có ý kiến trình bày:

Ông Hoàng A đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu T với điều kiện chia đôi số nợ chung với ông.

Về con chung: Ông và bà T có 02 con chung tên Nguyễn Thái T1, sinh ngày 21/3/2014 và Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 15/7/2018. Khi ly hôn, ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, ông không có ý kiến yêu cầu gì.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai của cháu Nguyễn Thái T1 và cháu Nguyễn Ngọc Gia H thể hiện, trường hợp cha mẹ ly hôn thì nguyện vọng của hai cháu là được sống cùng với mẹ.

Sau khi thụ lý vụ án, bà Nguyễn Thị Thu T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Hoàng A theo quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự, đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Hoàng A vẫn vắng mặt nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Thu T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoàng A. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” và thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của các đương sự trong vụ án: Bà Nguyễn Thị Thu T có đơn đề nghị xử vắng mặt và ông Nguyễn Hoàng A đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp theo quy định khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về phạm vi giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn, nuôi hai con chung, không yêu cầu cấp dưỡng, tài sản chung không tranh chấp, nợ chung không có. Bị đơn cho rằng đồng ý ly hôn với điều kiện chia đôi số nợ. Tòa án đã ra thông báo và ấn định thời hạn cho bị đơn về việc cung cấp, giao nộp chứng cứ và trường hợp có yêu cầu phản tố về việc yêu cầu chia nợ chung thì phải làm đơn khởi kiện gửi cho Tòa án, tuy nhiên hết thời hạn Tòa án ấn định bị đơn không cung cấp chứng cứ và yêu cầu gì nên Tòa án căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự xem xét trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương sự.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Hoàng A có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã A, tỉnh Tây Ninh) cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/6/2013 (quyển số 01/2013), nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Hoàng A là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu T đối với ông Nguyễn Hoàng A, thấy rằng: Bà T trình bày thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2020, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là ông Hoàng A nghỉ việc không đi làm, thường say sỉn đánh đập bà nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hoàng A. Đối với ông Hoàng A có ý kiến trình bày với yêu cầu ly hôn của bà T thì ông đồng ý ly hôn với điều kiện chia đôi số nợ. Tại phiên tòa, ông Hoàng A vẫn vắng mặt, chứng tỏ ông Hoàng A không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà T. Xét thấy, hai bên đều đồng ý ly hôn chứng tỏ hai bên hiện đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, không còn thiết tha vun đắp cuộc sống chung của vợ chồng để cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông Hoàng A đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu T.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống bà T và ông Hoàng A có 02 con chung tên Nguyễn Thái T1, sinh ngày 21/3/2014 và Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 15/7/2018. Xét thấy, các cháu T1 và H hiện do bà T đang nuôi dưỡng và các cháu có nguyện vọng là muốn sống cùng với mẹ, bà T cũng có yêu cầu được quyền nuôi dưỡng hai cháu. Ông Hoàng A không có ý kiến gì đối với con chung. Do đó để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của các cháu, nên căn cứ vào Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét cần giao cháu Nguyễn Thái T1 và Nguyễn Ngọc Gia H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng sau khi bà T và ông Hoàng A ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thu T không có yêu cầu ông Hoàng A cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện và phù hợp theo quy định tại Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ghi nhận không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Hoàng A xác định không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu T xác định không có nợ chung, ông Nguyễn Hoàng A xác định có nợ chung và yêu cầu chia đôi phần nợ chung nhưng đã hết thời hạn Tòa án ấn định về việc cung cấp, giao nộp chứng cứ ngày 19/8/2025 mà ông Hoàng A vẫn không cung cấp được các tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu chia nợ chung và không có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, trường hợp sau này các bên có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5, 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, 14, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T về việc “Ly hôn” đối với ông Nguyễn Hoàng A.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng A.

2. Về quyền nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Thu T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Nguyễn Thái T1, sinh ngày 21/3/2014 và Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 15/7/2018.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Hoàng A không phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

4. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Hoàng A xác định không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thu T xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

6. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001278 ngày 21/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh sang án phí để thi hành. Bà Nguyễn Thị Thu T đã nộp đủ án phí.

7. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ