- Tranh chấp gì? án hình sự — "Truy tố bị cáo Nguyễn Đình K phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy " quy định tại khoản 1 điều 251 BLHS. - phạm tội mua bán trái phép chấ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2024/HS-ST Ngày: 31/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
Ông Trần Văn Sơn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang- Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thuỳ Trang- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 131/2024/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2024/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đình K; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 31/5/200x; tại: TP.Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Số K25/37/1 đường T, tổ 2x, P.M, Q.S, TP.Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: LĐPT; Trình độ học vấn: 10/12; Họ và tên cha: Nguyễn Đình V (SN: 197x; còn sống); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Bích T (SN: 198x; còn sống); Gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/4/2021, bị Công an Q.S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 72/QĐ-XPHC bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng vũ khí trái quy định nhưng chưa gây hậu quả”; Ngày 08/10/2021, bị Công an Q.S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 211/QĐ-XPHC bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác, thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày, nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác”; Ngày 17/3/2022, bị TAND Q.Sơn T xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Khoản 6 Điều 134 BLHS, chấp hành xong án tù vào ngày 02/10/2022, đã chấp hành án phí hình sự (Bản án số 10/2022/HSST; K phạm tội ít nghiêm trọng khi đủ 16 tuổi nhưng dưới 18 tuổi nên không có án tích). Hiện bị cáo bị bắt ngày 10/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Q.N. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Đặng Tuấn A, sinh năm: 200x. Địa chỉ: Tổ 8x phường N, quận S, TP. Đà Nẵng. Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm: 199x. Địa chỉ: Số 129 đường H, phường N, quận S, TP. Đà Nẵng. Vắng mặt.
* Người chứng kiến:
1. Ông Trần Viết C, sinh năm: 197x. Địa chỉ: Tổ 3x, phường M, quận N, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.
2. Ông Lữ Hoàng Q, sinh năm: 199x. Địa chỉ: Tổ 4x, phường M, quận N, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 10/10/2024, tại trước số nhà 19 đường C, P.M, Q.N, TP.Đà Nẵng, Cơ quan CSĐT Công an Q.N bắt quả tang Nguyễn Đình K có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ của K:
+ 01 gói nilong bên trong chứa 03 viên nén màu xám và 01 gói nilong chứa tinh thể rắn màu trắng. Niêm phong, ký hiệu K1;
+ 01 ĐTDĐ hiệu Iphone, màu xanh gắn sim số 0935906xxx. Niêm phong, ký hiệu K2;
+ 01 xe mô tô BKS 43E1-478.36 (BL: 05-07, 09).
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của K tại số K25/37/1 đường T, P.M, Q.S, TP.Đà Nẵng: không thu giữ đồ vật tài liệu gì (BL: 11-12).
* Tại Kết luận giám định số 852/KL-KTHS ngày 18/10/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an TP.Đà Nẵng kết luận:
+ Các viên nén màu xám ký hiệu K1a gửi giám định là ma túy, loại MDMA; khối lượng mẫu K1a: 1,646 gam.
+ Tinh thể rắn màu trắng ký hiệu K1b gửi giám định là ma túy, loại Ketamine; khối lượng mẫu K1b: 1,275 gam (BL: 16).
Qua điều tra, từ lời khai nhận của Nguyễn Đình K, những người liên quan và chứng cứ thu được, xác định:
Vào khoảng 19 giờ 30 ngày 10/10/2024, khi đang uống cà phê tại địa chỉ số 379 đường T, Q.S, TP.Đà Nẵng, K nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0779248xxx của nam thanh liên tên “L” (không rõ lai lịch) gọi đến số điện thoại 0935906xxx của K, hỏi mua 03 viên thuốc lắc và 01 gói Ketamine. K báo giá 3.900.000 đồng, “L” đồng ý và hẹn giao dịch trước quán Karaoke S địa chỉ số 19 đường C, P.M, Q.N, TP.Đà Nẵng. Sau đó, K liên hệ cho một người tên “N” (không rõ nhân thân lai lịch) qua tài khoản Messenger “Nguyễn Văn N” hỏi mua 03 viên thuốc lắc và 01 gói Ketamine với giá 3.250.000 đồng, hẹn giao dịch tại khu vực đường T, P.Đ, TX.Đ, T.Quảng Nam. K mượn xe mô tô BKS 43E1-478.xx của anh Đặng Tuấn A (SN: 200x; trú: Tổ 8x, P.N, Q.S, TP.Đà Nẵng) nói đi có việc, điều khiển đến điểm hẹn để mua số ma túy trên, chưa trả tiền. K tiếp tục điều khiển xe đến điểm hẹn với “L”. Trong lúc K đang bán ma túy cho “L” thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ các tang vật như trên. “L” bỏ chạy thoát.
* Tiến hành thử test ma túy đối với K cho kết quả âm tính.
* Kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu xanh gắn sim số 0935906xxx của K: Có 02 cuộc gọi đến từ số điện thoại 0779248xxx (Lâm B) vào lúc 19 giờ 35 phút và 20 giờ 14 phút cùng ngày 10/10/2024; 01 cuộc gọi đi đến số điện thoại 0779248xxx (Lâm B) vào lúc 21 giờ ngày 10/10/2024; tin nhắn messenger với “Nguyễn Văn N” có nội dung liên quan đến vụ án (BL: 08-08a).
Quá trình điều tra, Nguyễn Đình K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên
* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N giữ nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng số 128/CT-VKS-NHS ngày 26/11/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Đình K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đồng thời đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt 10/10/2024.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 bì thư niêm phong ký hiệu K1 là mẫu giám định hoàn trả có ghi chữ Quyết định trưng cầu giám định số 1296 ngày 11/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự CATP Đà Nẵng; sim số 0935906xxx
- Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước của Nguyễn Đình K: 01 ĐTDĐ hiệu Iphone màu xanh (ký hiệu K2).
- Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Exciter BKS 43E1-478.xx do anh Nguyễn Văn P (SN: 199x; trú: Số 129 đường H, P.N, Q.S, TP.Đà Nẵng) đứng tên sở hữu. Vào tháng 3/2024, anh P đã bán xe này cho Đặng Tuấn A. Vào tối ngày 10/10/2024, anh Tuấn A không biết việc K mượn xe để đi mua bán ma túy. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an Q. N ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp anh Đặng Tuấn A và không đề cập xử lý đối với anh Tuấn A là có căn cứ.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Đình K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể: Vào lúc 21 giờ 10 phút ngày 10/10/2024, tại trước số nhà 19 đường C, P. M, Q. N, TP. Đà Nẵng, Cơ quan CSĐT Công an Q.N bắt quả tang Nguyễn Đình K đang bán 1,646 gam ma túy loại MDMA và 1,275 gam ma túy loại Ketamine.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo thấy phù hợp với các chứng cứ, tài liệu điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở xác định hành vi của Nguyễn Đình K đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 128/CT-VKS- NHS ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình K là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy: Ma túy tổng hợp MDMA và Ketamine là loại độc chất, có khả năng gây nghiện mạnh, có hại cho sức khoẻ và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội do đó bị Nhà nước cấm tự do tàng trữ, mua bán, vận chuyển hoặc chiếm đoạt. Bị cáo Nguyễn Đình K nhận thức được điều đó, song để phục vụ cho nhu cầu bản thân, hưởng lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy bị cáo đã bất chấp sự trừng trị của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hại lớn cho xã hội, là hành vi cố ý và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, Ngày 22/4/2021, bị Công an Q.S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 72/QĐ-XPHC bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng vũ khí trái quy định nhưng chưa gây hậu quả”; Ngày 08/10/2021, bị Công an Q.S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 211/QĐ-XPHC bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác, thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày, nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác”; Ngày 17/3/2022, bị TAND Q.S xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Khoản 6 Điều 134 BLHS, chấp hành xong án tù vào ngày 02/10/2022, đã chấp hành án phí hình sự (Bản án số 10/2022/HSST; K phạm tội ít nghiêm trọng khi đủ 16 tuổi nhưng dưới 18 tuổi nên không có án tích).
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong khi lượng hình.
Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Do không xác minh được tài sản riêng của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Xác định số ma túy còn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành nên cần áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ: 01 bì thư niêm phong ký hiệu K1 là mẫu giám định hoàn trả có ghi chữ Quyết định trưng cầu giám định số 1296 ngày 11/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự CATP Đà Nẵng; sim số 0935906xxx.
Đối với 01 ĐTDĐ hiệu Iphone màu xanh (ký hiệu K2) của Nguyễn Đình K đã dùng vào việc phạm tội, xét thấy còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
(Toàn bộ số vật chứng này hiện nay do Chi cục Thi hành án quận N, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/12/2024)
Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Exciter BKS 43E1-478.xx do anh Nguyễn Văn P (SN: 199x; trú: Số 129 đường H, P.N, Q.S, TP.Đà Nẵng) đứng tên sở hữu. Vào tháng 3/2024, anh P đã bán xe này cho Đặng Tuấn A. Vào tối ngày 10/10/2024, anh Tuấn A không biết việc K mượn xe để đi mua bán ma túy. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an Q.N ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp anh Đặng Tuấn A và không đề cập xử lý đối với anh Tuấn A là có căn cứ.
Đối với “L”, “N” liên quan đến hành vi mua bán ma túy của K: Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan CSĐT Công an Q.N sẽ tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
Từ những nhận định trên cho thấy đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N tại phiên tòa về tội danh và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật và phù hợp với quan điểm xử lý vụ án của Hội đồng xét xử.
Án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Đình K phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Đình K 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 10/10/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
Tịch thu tiêu huỷ 01 bì thư niêm phong ký hiệu K1 là mẫu giám định hoàn trả có ghi chữ Quyết định trưng cầu giám định số 1296 ngày 11/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự CATP Đà Nẵng; sim số 0935906xxx
Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 ĐTDĐ hiệu Iphone màu xanh (ký hiệu K2) của Nguyễn Đình K.
(Các vật chứng, tài sản trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận N đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/12/2024).
3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đình K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng; - Viện kiểm sát nhân dân quận N; - Công an quận N; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ TRÂM |