vanban.org

Bản án 126/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lương Thị N.

1 Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Lương Thị N và ông Đỗ Văn L là vợ chồng. 2 Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Thị Hương T, gới tính: nữ, sinh năm 1992 và Đỗ Quốc V, giới tính; nam, sinh năm 1995. Các con chung đều đã trưởng thành, bà N không yêu cầu giải qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LƯƠNG THI N TRANH CHẤP LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lương Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27-5-2024
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Văn Định;

2. Ông Nguyễn Văn Thành;

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Nữ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Kim Châu Nghĩa – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 300/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lương Thị N, sinh năm 1963 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện S, tỉnh Bình Định.

2. Bị đơn: Ông Đỗ Văn L, sinh năm 1966 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện S, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06 tháng 9 năm 2023 và đơn bổ sung ngày 17 tháng 11 năm 2023, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lương Thị Nga trình bày:

Bà và ông L tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 10/3/1991 cho đến nay nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống, bà và ông L hạnh phúc được thời gian, đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: Do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường hay cãi vã. Ông L thường xuyên vô cớ đánh đập bà, có khi ông dùng những vật dụng nguy hiểm đánh bà như dây nịt, ghế…; dùng tay chân đấm đá, có khi ông chốt cửa lại đánh bà để bà không chạy trốn được. Ông quá độc ác và thủ đoạn, người bà lúc nào cũng bị bầm dập, ông đánh bà hàng xóm đều biết và có tới can ngăn rất nhiều lần. Nhưng vì danh dự gia đình và các con nên bà cố cắn răng chịu đựng mà không báo cáo với chính quyền địa phương và Công an. Ngoài ra, ông còn đưa thuốc độc (thuốc trừ sâu) bảo bà uống chết đi…..Vì các con bà cố chịu đựng những trận đánh của ông và bà cũng đã cho ông rất nhiều cơ hội để tự nhìn nhận lại bản thân, lo làm ăn nuôi con khôn lớn nhưng mọi sự huy sinh của bà cũng không làm cho ông L thay đổi mà ngày càng ngược đãi, hành hung, đánh đập, chửi bới, xúc phạm đến nhân phẩm của bà, ông chửi bà là “ con đĩ”….. Quá buồn và thất vọng nên bà đã bỏ vô Sài Gòn ở nhà con gái từ tháng 6/2015 cho đến nay; vợ chồng đã thật sự sống ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng, không còn quan tâm và không còn tình cảm với nhau nữa.

Hôm nay, bà xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể kéo dài vì sống ly thân đã lâu nên không còn tình cảm, nên bà yêu cầu được ly hôn ( không công nhận vợ chồng) với ông Đỗ Văn L.

- Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung tên Đỗ Thị Hương T, giới tính: Nữ, sinh năm 1992 và Đỗ Quốc V, giới tính: Nam, sinh năm 1995. Các con đều đã trưởng thành, có công việc và thu nhập ổn định, nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Lương Thị N và bị đơn ông Đỗ Văn L đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

Về các thủ tục giải quyết vụ án ly hôn đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, hòa giải, tiếp cận và công khai chứng cứ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản hoặc quan điểm gửi đến Tòa án; không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Như vậy ông L không xem trọng cuộc hôn nhân giữa ông và bà N. Nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Theo xác nhận ngày 16/11/2023 của Công an xã G, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định: Ông Đỗ Văn L, sinh năm 1966, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm 5, thôn T, xã G, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Hiện nay ông Lộc có mặt tại địa phương.

Theo xác nhận ngày 11/3/2024 của Ủy ban nhân dân xã G, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định: Bà Lương Thị N và ông Đỗ Văn L chung sống với nhau từ năm 1991 cho đến nay. Tuy nhiên từ đó đến nay bà N và ông L không đăng ký kết hôn theo quy định.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật tố tụng của các đương sự đúng theo quy định.

Nguyên đơn bà Lương Thị N, bị đơn ông Đỗ Văn L đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án:

-Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị N và ông Đỗ Văn L không có đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận bà Lương Thị N và ông Đỗ Văn L là vợ chồng.

-Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Thị Hương T, gới tính: nữ, sinh năm 1992 và Đỗ Quốc V, giới tính; nam, sinh năm 1995. Các con chung đều đã trưởng thành, bà N không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

-Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nga không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

-Về án phí: Bà Nga phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vụ án Hôn nhân và Gia đình khởi kiện ly hôn. Bị đơn ông Đỗ Văn L có đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại xóm 5, thôn T, xã G, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Lương Thị N và ông Đỗ Văn L đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị N và ông Đỗ Văn L tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 10/3/199 cho đến nay nhưng không có đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên không được công nhận hôn nhân hợp pháp.

Việc bà Lương Thị N xét thấy cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc vì bị ông L thường xuyên vô cớ đánh đập bà, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân, cắt đứt quan hệ từ tháng 6/2015 cho đến nay. Tuy nhiên hôn nhân của bà N và ông L là không hợp pháp vì không có đăng ký kết hôn nên căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình nghị nên không công nhận bà Lương Thị N và ông Đỗ Văn L là vợ chồng.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Thị Hương T, gới tính: nữ, sinh năm 1992 và Đỗ Quốc Vg, giới tính; nam, sinh năm 1995. Các con chung đều đã trưởng thành, bà Nga không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lương Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà Lương Thị N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Bà N đã nộp đủ tiền án phí.

Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 147, 227, 228 , 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lương Thị N.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Lương Thị N và ông Đỗ Văn L là vợ chồng.

1.2 Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đỗ Thị Hương T, gới tính: nữ, sinh năm 1992 và Đỗ Quốc V, giới tính; nam, sinh năm 1995. Các con chung đều đã trưởng thành, bà N không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

1.3 Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Lương Thị N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003361 ngày 02/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 27/5/2024. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ