vanban.org

Bản án 126/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 07/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 50; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 50; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PLEIKU
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:126/2023/HSST
Ngày: 07/8/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quách Đình Hoằng.

2. Bà Tô Thị Lành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Síu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thái Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 55/2023/TLST- HS ngày 11 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:81/2023/QĐXXST- HS, ngày 05/5/2023 đối với bị cáo sau:

Nguyễn Anh T- Giới tính: Nam.

Sinh năm 1998, tại Gia Lai.

Nơi cư trú: 324/1 Phan Đình P, tổ 9, phường Yên Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1968, con bà Tạ Thị K, sinh năm 1970. Có vợ Bùi Cẩm V, sinh năm 1996. Địa chỉ: 63/16 đường Nguyễn Hữu Cầu, phường Tân Định, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo chưa có con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời tham gia tố tụng khác:

- Người bị hại: Đoàn Anh T1. Sinh năm 1996 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp cho người bị hại: Chị Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1997. Địa chỉ: 79/10 Phùng Khắc K, tổ 14, phường Yên Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Lao Thế V, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ 9, phường Yên Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1993. Địa chỉ: 263 Phan Đình P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Chị Bùi Cẩm V, sinh năm 1996. Địa chỉ: 63/16 Nguyễn Hữu C, phường Tân Đ, TP. Quận 1, TP Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Anh T không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định của pháp luật. Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 11/9/2022, Nguyễn Anh T điều khiển xe mô tô biển số 81 K9- 8597 lưu thông trên đường Phan Đình Phùng, ngồi ở phía sau là chị Bùi Cẩm V là vợ , lưu thông theo hướng Hoa Lư đi xã Ia Der. Khi Tđiều khiển xe mô tô biển số 81 K9- 8597 đi đến ngã tư Phan Đình Phùng- Lý Thái Tổ thuộc tổ 6, phường Yên Đỗ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, thì đèn tín hiệu giao thông chuyển sang màu vàng. T dừng xe trước vạch và quan sát thấy đường vắng, lượng xe ít nên Ttiếp tục điều khiển xe (tốc độ khoảng 20km/h theo lời khai của T) vượt đèn vàng và đi vào ngã tư. Cùng lúc này, anh Đoàn Anh T (sinh năm 1996, trú tại 79/10 Phùng Khắc Khoan, tổ 13, phường Yên Đỗ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai) một mình điều khiển xe mô tô biển số 81M1 - 023.83 lưu thông trên đường Lý Thái Tổ hướng Lê Đại Hành đi Lê Thánh Tôn, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi qua ngã tư nên đã tông vào xe mô tô biển số 81 K9- 8597 do T điều khiển làm T, V, T1 và 02 xe ngã ra đường. Hậu quả: Anh T1 bị thương đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai đến ngày 12/9/2022 thì tử vong.

Qua giám định, tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 626/KL-KTHS ngày 11/10/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận nguyên nhân chết của Đoàn Anh T1: Chấn thương sọ não.

Theo phiếu đo nồng độ cồn số 890330 vào lúc 09 giờ 07 phút ngày 12/9/2022 của Đội Cảnh sát giao thông - Trật tự công an thành phố Pleiku đối với Nguyễn Anh T là 0.00 mg/l khí thở.

Theo phiếu xét nghiệm sinh hóa máu vào lúc 23 giờ 05 phút ngày 11/9/2022 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia lai đối với Đoàn Anh T: định lượng Ethanol (cồn) là 201.3 mg/dl.

* Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng

Hiện trường không còn nguyên vẹn hoàn toàn do quá trình đưa người bị thương đi cấp cứu, quá trình người và phương tiện lưu thông qua lại làm ảnh hưởng đến các dấu vết để lại trên hiện trường. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là ngã tư nơi giao nhau giữa đường Lý Thái Tổ và Phan Đình Phùng. Đường Lý Thái Tổ là đường đôi, có dải phân cách cứng bằng bê tông xi măng, chia mặt đường thành hai chiều riêng biệt. Chiều đi theo hướng Lê Đại Hành đi Lê Thánh Tôn có mặt đường rộng 9,3 m được thảm bê tông nhựa bằng phẳng, có vạch kẻ sơn màu trắng, dạng đơn đứt nét chia mặt đường làm ba làn. Đường Phan Đình Phùng là đường hai chiều mặt đường rộng 7,95 m được thảm bê tông nhựa bằng phẳng, có vạch kẻ sơn vàng, dạng đơn đứt nét. Tại đầu ngã tư nơi giao nhau có vạch kẻ sơn màu trắng dạng (3x0,4) m, dành cho người đi bộ qua đường. Có biển báo hiệu và đèn tín hiệu giao thông.

Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn. Lấy trụ điện số 476 DHO/61 được dựng trên vỉa hè bên phải đường Lý Thái Tổ theo hướng Lê Đại Hành đi Lê Thánh Tôn làm điểm mốc cố định. Lấy mép đường bên phải đường Lý Thái Tổ nơi xảy ra tai nạn giao thông theo hướng đi từ Lê Đại Hành đi Lê Thánh Tôn làm mép đường chuẩn.

Tại hiện trường sau tai nạn được mô tả như sau: Trên mặt đường phát hiện vết cà cao su có diện (0,46 x 0,66) m được đánh số thứ tự là (1). Tâm (1) đo vào mép tường chuẩn là 4,1 m, đo và đầu vạch kẻ dành cho người đi bộ về hướng đi Lê Đại Hành là 16,8 m và đo vào đầu giải phân cách bằng bê tông xi măng trên đường Lý Thái Tổ về hướng đi Lê Đại Hành là 17,2 m. Từ tâm (1) cách 2,5 m chết về phía trái mép đường chuẩn là đầu vết cày có diện (6,8 x 0,67) m, được đánh số thứ tự là (2), vết (2) gồm nhiều vết cày nhỏ đứt quãng không liên tục kéo dài từ giữa mặt đường chếch về phía trái mép đường chuẩn, đầu vết đo vào mép đường chuẩn là 6,4 m, cuối vết tiếp giáp với phần thân xe bên phải của xe mô tô biển số 81 K9- 8597, xe mô tô biển số 81 K9- 8597 được đánh số thứ tự là (3), xe (3) ngả nghiêng về phải, đầu xe hướng về bên trái mép đường chuẩn, đuôi xe hướng mép đường chuẩn, tâm trục bánh xe trước đo vào mép đường chuẩn là 11,3 m. Tâm trục bánh xe sau đo vào mép đường chuẩn là 10,2 m, tâm trục bánh xe trước đo vào đầu dãi phân cách là 2,3 m. Từ tâm trục bánh sau xe (3) cách 3,4 m về hướng mép đường chuẩn là tâm vùng mảnh vỡ có diện (4,5 x 5,1) m được đánh số thứ tự là (4), vùng (4) không rõ hình dạng để lại trên mặt đường, tâm đo vào mép đường chuẩn là 7,25 m, đo vào đầu vết (2) là 3,9m. Từ tâm vết (4) cách 2,25 m về hướng đường Lê Thánh Tôn là dấu vết cày có diện (7,1 x 1,05) m được đánh số thứ tự là (5), vết (5) gồm nhiều vết cầy nhỏ đứt quãng không liên tục có chiều hướng từ Lê Đại Hành đi Lê Thánh Tôn, đầu vết đo và mép đường chuẩn là 4,6 m, đo vào đầu (2) là 1,92 m và đo vào tâm (4) là 4,2 m, cuối vết tiếp giáp với phần thân xe bên phải của xe mô tô biển số 81 M1- 023.83, xe mô tô biển số 81 M1- 028.83 được đánh số thứ tự là (6), xe (6) ngả nghiêng về phải trên mặt đường, đầu xe hướng Lê Đại Hành, đuôi xe hướng Lê Thánh Tôn, tâm trục bánh xe trước đo vào mép đường chuẩn là 3,53 m, tâm trục bánh xe sau đo và mép đường chuẩn là 3,9 m. Từ tâm trục bánh xe trước xe (6) cách 1,75m về giữa đường là tâm vùng màu nâu đỏ có diện (3,05 x 0,25) m nghi là máu được đánh số thứ tự là (7), vùng (7) để lại trên mặt đường không rõ hình dạng, tâm (7) đo vào mép đường chuẩn là 4,7 m, đo vào tâm (4) là 3,8 m. Đo khoảng cách gần nhất từ tâm trục bánh sau xe (6) vào điểm mốc cố định là 14,2 m.

* Kết quả khám xe mô tô biển số 81K9-8597.

Xe mô tô biển số 81 K9 - 8597 dài 199 cm, chiều rộng tay lái 66 cm, chiều cao 105 cm, dung tích xi lanh 124. Phần ốp nhựa bảo vệ đầu xe bên phải có vết xây xát nhựa diện (8x 9) cm, mặt ngoài tay lái bên trái có vết xây xát kim loại và trầy xước cao su diện (3x 2) cm, chiều hướng từ trước ra sau. Mặt ngoài trong má phanh xe trước có vết xây xát kim loại diện (1 x 2) cm, chiều hướng trước ra sau. Mặt nạ chắn gió bên phải phía trước có vết xây xát nhựa diện (13x 20) cm, chiều hướng từ trước ra sau, dưới lên trên. Mặt ngoài bửng chắn gió bên phải có vết xây xát nhựa diện (19x16)cm, chiều hướng trước ra sau, dưới lên trên. Mặt ngoài phần dưới bàn để chân bên phải có vết xây xát nhựa, dính chất màu trắng diện (25 x 2) cm, chiều hướng trước ra sau, dưới lên trên. Mặt ngoài gác để chân sau bên trái có vết trầy xước kim loại diện (3x 2) cm chiều hướng trước ra sau, dưới lên trên. Mặt ngoài ống xả khói phía sau bị xây xát kim loại, xây sát nhựa, có dính nhiều bụi đất màu vàng nâu, hướng trước ra sau, diện (39 x 10) cm. Mặt ngoài thanh kim loại bảo vệ yên xe bên phải phía sau có vết trầy xước kim loại diện (21x2) cm, chiều hướng trước sau, dưới lên trên. Mặt ngoài bảo vệ lọc gió lủng, dạng hình tròn, đường kính 2 cm, có vết xước nhựa, dính nhiều bụi đất màu vàng diện (29 x 20) cm, không xác định được chiều hướng. Hộp kim loại bảo vệ lốc máy phía sau có vết lõm kim loại diện (3x 2,5) cm, không rõ hình. Mặt ngoài gác để chân sau bên trái có vết trầy xước kim loại diện (14 x 9) cm; mặt ngoài ốp nhựa phía sau thân xe bên trái có vết xây xước nhựa diện (39 x 45) cm. Hộp kim loại bảo vệ lốc máy phía trước bên trái có vết trầy xước kim loại diện (16x6) xm, chiều hướng ngoài vào trong, sau ra trước. Cần khởi động xe mô tô bị ép sâu vào lốc máy; chân chống sau bên trái bị ép sát vào lốc máy chiều hướng từ ngoài vào trong. Phần ốp nhựa thân xe bên trái bị bung khỏi vị trí ban đầu 2 cm.

Qua định giá, tại Kết luận định giá số 24/KL-HĐĐGTS ngày 09/02/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: Tổng giá trị của xe mô tô biển số 81K9-8597 bị thiệt hại sau tai nạn giao thông là 2.000.000 đồng.

* Kết quả khám xe mô tô biển số 81M1- 023.83.

Xe mô tô biển số 81M1-023.83, chiều dài 158cm, chiều rộng tay lái 72cm, chiều cao 102cm, dung tích xi lanh 109. Phần ốp nhựa bảo vệ đầu xe và đồng hồ công tơ mét bị vỡ hoàn toàn rời khỏi xe. Gương chiếu hậu hai bên trái phải không có. Đèn chiếu sáng phía trước và tín hiệu rẽ trái -phải bị vỡ hoàn toàn, rơi rụng khỏi xe. Mặt nạ phía trước đầu xe và bửng chắn gió hai bên, dè chắn bùn phía trước bị vỡ hoàn toàn, phuộc nhún phía trước bên trái bị cong gập, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải, lệch so với vị trí ban đầu 18 cm. Bánh xe phía trước nghiêng lệch hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải, ép sát vào ống xả khói. Tại vị trí bên trái lốp bánh xe bị rách diện (4x3) cm. Tại vị trí phía trước phuộc nhún bên trái có vết trầy xước kim loại và dính chất màu đen (nghi sơn). Mặt ngoài tay nắm ghi đông bên phải có vết trầy xước kim loại diện (4 x 3) cm. Tại vị trí ổ khóa xe, hiện đang cắm chìa khóa nhưng bị gãy phần đuôi chìa khóa. Tại vị trí mặt ngoài cần đạp số có vết trầy xước kim loại, đường kính 2 cm. Tại vị trí mặt nạ ốp thân xe bên phải sát dưới yên xe có vết trầy xước nhựa diện (9x 0,5) cm. Tại vị trí góc chân phải sau có vết mài mòn kim loại và trầy xước cao su diện (3 x 2) cm. Tại vị trí mặt ngoài gác chân trước bên phải có vết trầy xước cao su diện (4 x 2) cm. Mặt ngoài phía sau ống xả khói có vết trầy xước kim loại diện (3 x 4) cm. Tại mặt ngoài khung kim loại bảo vệ yên xe phía sau có vết trầy xước kim loại, tróc sơn, trong diện (9x1) cm.

Qua định giá, tại Kết luận định giá số 24/KL-HĐĐGTS ngày 09/02/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: Tổng giá trị xe mô tô biển số 81M1-023.83 bị thiệt hại sau tai nạn giao thông là 14.000.000 đồng

Vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, màu đỏ-đen, biển số 81K9-8597. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku đã trả lại xe mô tô trên cho ông Lao Thế V. Địa chỉ: Tổ 9, phường Yên Đ, TP. P là chủ sở hữu.

- 01 mô tô nhãn hiệu Suzuki, màu xanh, biển số 81M1-023.83. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku đã trả lại xe mô tô trên cho ông Nguyễn Ngọc T. Địa chỉ: 263 đường Phan Đình P, TP.P, tỉnh Gia Lai là chủ sở hữu

Tại bản cáo trạng số 80/CT -VKS ngày 10/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Anh Tvề tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 50; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

- Buộc bị cáo Nguyễn Anh T còn phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp cho bị hại số tiền 200.000.000 đồng.

- Buộc người đại diện hợp pháp cho bị hại phải bồi thường cho ông Nguyễn Ngọc T số tiền 14.000.000 đồng

- Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi tố tụng và các quyết định tố tụng trong quá trình điều tra truy tố: Trong quá trình điều tra truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân TP. Pleiku đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Xét về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liê ̣u chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vu ̣ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/9/2022,Nguyễn Anh T điều khiển xe mô tô biển số 81 K9- 8597 khi không có giấy phép lái xe theo quy định, chở vợ là Bùi Cẩm V ngồi ở phía sau, lưu thông trên đường Phan Đình Phùng theo hướng từ Hoa Lư đi xã Ia Der khi đến ngã tư đường Phan Đình Phùng, Lý Thái Tổ thuộc tổ 6, phường Yên Đỗ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Lúc này đèn tín hiệu chuyển màu vàng, T dừng lại và quan sát thấy đường vắng nên đã điều khiển xe mô tô biển số 81 K9- 8597 vượt qua đèn vàng và lưu thông vào ngã tư thì va chạm giao thông với xe mô tô biển số 81M1-023.83 do Đoàn Anh T điều khiển lưu thông trên đường Lê Đại Hành đi Lê Thánh Tôn. Hậu quả, Đoàn Anh T1 chết.

Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đối với bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo là người trưởng thành nhận thức được pháp luật nhưng bị cáo T đã điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe, không tuân thủ nguyên tắc an toàn giao thông là không dừng lại trước vạch khi đèn tín hiệu chuyển sang màu vàng, không chú ý quan sát và xử lý kém nên đã gây ra vụ tai nạn giao thông làm cho anh Tài chết. Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm sức khỏe của người khác, an toàn công cộng, trật tự công cộng mà còn gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, cần xử cho bị cáo một mức án nghiêm là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo đồng thời bảo đảm được biện pháp giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tính tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự; đã bồi một phần thường thiệt hại cho gia đình người bị hại; Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bên cạnh đó bị hại cũng có một phần lỗi là điều khiển xe mô tô trong tình trạng sử dụng bia rượu; Người đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật xử dưới mức khung hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

Đối với ông Lao Thế V là chủ sở hữu chiếc xe ô tô biển số 81K9-8597, việc Nguyễn Anh T không có giấy phép lái xe và điều khiển chiếc xe trên gây tai nạn ông V không biết, Ttự ý sử dụng xe mô tô trên. Do vậy, không có căn cứ xử lý hình sự là đúng pháp luật.

Đối với ông Nguyễn Hữu T là chủ sở hữu chiếc xe ô tô biển số 81M1-023.83, việc Đoàn Anh T sử dụng rượu bia rồi điều khiển chiếc xe trên gây tai nạn giao thông vào ngày 11/9/2021 làm chính Tài chết thì ông Thuận không biết, Tài tự ý sử dụng xe mô tô trên. Do vậy, không có căn cứ xử lý hình sự là dúng pháp luật.

Về bồi thường dân sự:

-Tại phiên tòa Người đại diện hợp pháp cho bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 398.000.000 đồng, trong đó: Chi phí cấp cứu 4.000.000 đồng chi phí mai táng 45.000.000 đồng, bồi thường tổn thất về tinh thần 149.000.000 đồng, cấp dưỡng cho 02 con 200.000.000 đồng. Bị cáo cũng đồng ý bồi thường và bị cáo đã bồi thường số tiền 88.000.000 đồng. Nên buộc bị cáo còn phải bồi thường số tiền 310.000.000 đồng, nhưng do bị cáo T cũng đang gặp khó khăn nên đại diện cho bị hại chỉ yêu cầu T tiếp tục bồi thường số tiền 200.000.000 đồng.

- Sau khi nhận lại xe mô tô ông Nguyễn Ngọc T yêu cầu người đại diện cho bị hại bồi thường số tiền 15.000.000 đồng. Hội đồng định giá kết luận xe ô mô bị thiệt hại 14.000.000 đồng, người đại diện cho bị hại đồng ý bồi thường theo hội đồng định giá xác định nên buộc người đại diện cho bị hại phải bồi thường cho ông Thuận 14.000.000 đồng.

Về án phí: Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 50; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng: Điều 584; Điều 585; Điều 591; Điều 593 Bộ luật dân sự năm 2015.

+ Buộc bị cáo Nguyễn Anh Tcòn phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp cho bị hại là chị Nguyễn Thị Mỹ T số tiền 200.000.000 đồng.

+ Buộc người đại diện hợp pháp cho bị hại là chị Nguyễn Thị Mỹ T phải bồi thường ông Nguyễn Ngọc T số tiền 14.000.000 đồng.

- Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

+ Buộc người đại diện hợp pháp cho bị hại là chị Nguyễn Thị Mỹ T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 700.000 đồng.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ