vanban.org

Bản án 126/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Vì, TP. Hà Nội Tuyên án 30/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị N - Phạm Ngọc A - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ – TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2023/HS-ST
Ngày 30 tháng 11 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trọng Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hoan; ông Nguyễn Văn Bống

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 11 năm 2023. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 121/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1, Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1964 tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Nơi cư trú: Thôn 5, xã TM, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/10; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn M1 (đã chết) và bà Đoàn Thị M2 (đã chết); Chồng: Nguyễn Văn Ng2, sinh năm 1969; Con: Có 01 con, sinh năm 1997; Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/09/2023 đến ngày 26/09/2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

2, Phạm N A, sinh năm 1984 tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Nơi cư trú: Thôn 5, xã TM, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm N H2, sinh năm 1960 và bà Nghiêm Thị M3, sinh năm 1963; Chồng: Nguyễn Hữu Đ3, sinh năm 1960; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/09/2023 đến ngày 26/09/2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Phùng Thị T, sinh năm 1984 Địa chỉ: xóm TC, xã MĐ, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

- Chị Cao Thị T2, sinh năm 1988 Địa chỉ: thôn TS, xã PX, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Anh Nguyễn Văn K2, sinh năm 1990 Địa chỉ: thôn VH, xã VH, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

- Anh Tạ Văn T2, sinh năm 1990 Địa chỉ: thôn ĐT, xã TL, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. (Chị T, chị T2, anh K2, anh T2 đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 20/9/2023 tổ công tác đội CSHS- Công an huyện Ba Vì phối hợp với Công an xã TM tiến hành kiểm tra hành chính trên địa bàn xã TM, huyện Ba Vì, Hà Nội. Quá trình kiểm tra đã phát hiện Nguyễn Thị Ng có hành vi chứa mại dâm cho Nguyễn Văn K2 và Phùng Thị T; Tạ Văn T2 và Cao Thị T2 tại hai phòng khô thuộc tầng 1 và tầng 2 dãy nhà tắm dịch vụ cơ sở tắm khoáng nóng do Nguyễn Thị Ng làm chủ. Tổ công tác Công an huyện Ba Vì đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tang vật thu giữ gồm : 300.000đ thu giữ trên người Nguyễn Văn K2 là số tiền sử dụng để mua dâm. 300.000đ thu giữ trên người Tạ Văn T2 là số tiền sử dụng để mua dâm. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y33s, màu đen của Cao Thị T2. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro, màu hồng của Phùng Thị T. 01 ruột bao cao su và 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu “DONGKUK VIET NAM CO” đã qua sử dụng tại phòng của Phùng Thị T và Nguyễn Văn K2. 01 ruột bao cao su và 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu “DONGKUK VIET NAM CO” đã qua sử dụng tại phòng của Cao Thị T2 và Tạ Văn T2.

Tại cơ quan CSĐT, Nguyễn Thị Ng khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 ngày 20/09/2023, Nguyễn Thị Ng đang ở cơ sở tắm khoáng nóng không có biển hiệu ở thôn 5, xã TM, huyện Ba Vì, Hà Nội do N làm chủ thì Tạ Văn T2 và Nguyễn Văn K2 đi chung một xe máy đến cơ sở tắm khoáng nóng của N. Tại đây, T2 đứng ra thỏa thuận trực tiếp với N cho hai gái bán dâm đến cơ sở để T2 và K2 mua dâm. N đồng ý và thỏa thuận với T2 giá mua dâm là 300.000đ/1 lượt/ 01 người, sau khi mua dâm thì sẽ thanh toán tiền sau. Sau đó, N đi đến nhà Phạm N A, cách nhà N khoảng 70m để đặt vấn đề với N A cho nhân viên nữ sang nhà N để bán dâm (Do trước đó, giữa N với N A đã có thỏa thuận về việc khi có khách nam đến cơ sở tắm nóng của nhà N đặt vấn đề mua dâm thì N A sẽ để cho nhân viên nữ đi bán dâm tại nhà N). Khi N đến nhà N A thì N A không có nhà mà chỉ thấy Phùng Thị T và Cao Thị T2 là 02 nhân viên đang phục vụ tại cơ sở tắm khoáng nóng của N A. Tại đây, N trao đổi và thỏa thuận với T và T2 đến bán dâm cho khách tại nhà N thì T và T2 đều đồng ý. Sau đó, T và T2 tự đi bộ đến cơ sở của N. N để sẵn khăn tắm và bao cao su chỗ gần dãy nhà dịch vụ cho T và T2 mang vào phòng bán dâm cho T2 và K2. T2 đi lên phòng đầu tiên ở tầng 2 dãy nhà dịch vụ. K2 vào phòng đầu tiên ở tầng 1 sát lối cầu thang dãy nhà dịch vụ. Đến khoảng 20h00 cùng ngày, khi N đang cho K2 và T, T2 và T2 mua bán dâm tại cơ sở tắm khoáng nóng của N thì bị Công an huyện Ba Vì kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang.

Ngày 21/09/2023, Phạm N A đã đến cơ quan CSĐT - Công an huyện Ba Vì để đầu thú và khai nhận như sau: Gia đình Phạm N A đang kinh doanh dịch vụ tắm nước khoáng nóng địa chỉ ở thôn 5, xã TM, huyện Ba Vì, Hà Nội do N A làm chủ. Do không có người giúp việc nên N A đã thuê 2 nhân viên nữ là Phùng Thị T và Cao Thị T2 hàng ngày dọn dẹp phòng tắm. Trong quá trình thuê T và T2 giúp việc thì N A đặt vấn đề với T và T2 về việc nếu bán dâm cho khách nam tại cơ sở của N A hoặc tại cơ sở tắm nóng khác thì sẽ trả thêm tiền cho T và T2. Cụ thể: Đối với T2 nếu bán dâm ở nhà thì N A trả 150.000đ, nếu bán dâm ở cơ sở ngoài thì N A trả 80.000đ. Đối với T nếu bán dâm ở nhà N A trả 100.000đ, nếu bán dâm ở ngoài N A trả 70.000đ. T2 và T đều đồng ý. Buổi tối ngày 20/9/2023, N A cùng chồng và con sang nhà mẹ đẻ của N A ở sát nhà chơi thì thấy bà N đến nhà N A. N A không về gặp bà N vì nghĩ bà N đến để mượn nữ nhân viên của N A để bán dâm cho khách tại cơ sở của bà N theo như N A với bà N thỏa thuận từ trước. (Nếu cho nhân viên của N A đến bán dâm tại nhà bà N thì bà N trả cho nhân viên 150.000đ mang về cho N A). Sau đó, N A thấy bà N ra về luôn. Một lúc sau N A về nhà thì không thấy T và T2 ở nhà nên biết cả hai đã đi đến nhà bà N để bán dâm. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 20/9/2023, N A nghe tin nhà bà N bị cơ quan Công an kiểm tra bắt quả tang 2 đôi nam nữ đang mua bán dâm tại nhà bà N. N A đến Công an huyện Ba Vì để đầu thú và xin khai báo toàn bộ nội dung thỏa thuận giữa N A với bà N và nội dung thỏa thuận giữa N A với T và T2 như nêu trên.

Cơ quan CSĐT đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Thị Ng và Phạm N A. Quá trình khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Nguyễn Thị Ng và Phạm N A, cơ quan CSĐT không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

Tiến hành cho Nguyễn Thị Ng, Phùng Thị T và Cao Thị T2 nhận dạng trực tiếp Phạm N A. Kết quả nhận dạng xác định được người đã thỏa thuận việc mua bán dâm, môi giới mại dâm với N, T và T2 là Phạm N A (SN : 1984, HKTT : Tả Thanh Oai - Thanh Trì - Hà Nội, chỗ ở hiện nay: Thôn 5 - xã TM - Ba Vì - Hà Nội).

Tại cơ quan CSĐT Phùng Thị T, Nguyễn Văn K2, Cao Thị T2, Tạ Văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm phù hợp với lời khai của Nguyễn Thị Ng, Phạm N A.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Nguyễn Thị Ng, Phạm N A đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng số 120/CT-VKS ngày 05/11/2023 và đề nghị Hội đồng xét xử :

- Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ng phạm tội “Chứa mại dâm”. xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ng từ 12 đến 15 tháng tù.

- Áp dụng khoản 2 Điều 328; điểm s,t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 54 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm N A phạm tội “Môi giới mại dâm”. xử phạt bị cáo Phạm N A từ 18 đến 21 tháng tù.

Tịch thu, tiêu hủy: 02 ruột bao cao su và 02 vỏ bao cao su Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền: 600.000đ.

Trả lại cho Cao Thị T2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y33s. Trả lại cho Phùng Thị T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro,

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ba Vì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Thị Ng, Phạm N A tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản thu giữ tang vật, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; xác định: Ngày 20/09/2023 tại thôn 5, xã TM, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, Phạm N A đã có hành vi môi giới 02 gái bán dâm cho Nguyễn Thị Ng để N sử dụng cơ sở tắm khoáng nóng tại nhà mình chứa chấp cho 02 cặp nam nữ mua bán dâm nhằm mục đích thu lời bất chính. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm”, quy định tại Khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự và hành vi của bị cáo Phạm N A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” quy định tại Khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự

Tính chất mức độ. tình tiết tăng năng giảm nhẹ, hình phạt:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công công, đạo đức xã hội; ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, làm mất trật tự trị an của địa phương, bất bình trong quần chúng nhân dân, là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS và các bệnh truyền nhiễm khác.

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Phạm N A đầu thú tại Cơ quan điều tra quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã đầu thú tích cực hợp tác để giải quyết vụ án, chồng của bị cáo Phạm N A có huân chương chiến sĩ vẻ vang và được tặng kỷ niệm chương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Hình phạt: Các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, cần áp dụng Điều 38 BLHS cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung.

Các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản riêng lớn, không có công việc ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Đối với : 02 ruột bao cao su và 02 vỏ bao cao su nhãn hiệu “DONGKUK VIET NAM CO” đã qua sử dụng, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 600.000đ thu giữ của Nguyễn Văn K2 và Tạ Văn T2, là số tiền sử dụng mua dâm liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y33s, màu đen, đã cũ đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim đã cũ được xác định là của Cao Thị T2 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro, màu hồng, đã cũ đã qua sử dụng, màn hình bị nứt vỡ, bên trong có lắp 02 sim đã cũ được xác định là của Phùng Thị T. Hai chiếc điện thoại di động trên của T2 và T không liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án, nên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với Phùng Thị T, Nguyễn Văn K2, Cao Thị T2, Tạ Văn T2 có hành vi mua, bán dâm ngày 20/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Ba Vì đã ra Quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:\

Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Thị Ng. Áp dụng khoản 2 Điều 328; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Phạm N A. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án, Xử:

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ng phạm tội “Chứa mại dâm”. Tuyên bố bị cáo Phạm N A phạm tội “Môi giới mại dâm”.

2/Xử phạt:

Nguyễn Thị Ng: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Bị cáo N được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/09/2023 đến ngày 26/09/2023.

Phạm N A: 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Bị cáo Anh được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/09/2023 đến ngày 26/09/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3/ Tịch thu tiêu hủy: 02 ruột bao cao su và 02 vỏ bao cao su nhãn hiệu “DONGKUK VIET NAM CO” đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 600.000đ thu giữ của Nguyễn Văn K2 và Tạ Văn T2.

- Trả lại cho chị Cao Thị T2: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y33s, màu đen, đã cũ đã qua sử dụng, không khởi động được nguồn nên không kiểm tra được số Imei, bên trong có lắp 01 sim đã cũ. Trả lại cho Phùng Thị T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro, màu hồng, đã cũ đã qua sử dụng, màn hình bị nứt vỡ, không khởi động được nguồn nên không kiểm tra được số Imei, bên trong có lắp 02 sim đã cũ. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/11/2023 và giấy nộp tiền ngày 21/11/2023)

4/ Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ng, Phạm N A, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ