- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c, Khoản 1, Điều 249; Điểm s, Khoản 1, Điều 51; Điểm h, Khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 126/2022/HS-ST Ngày 29 - 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN - TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Thiện
Bà Trần Ngọc Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/QĐ-HPT ngày 22 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1981 tại Thành phố H; hộ khẩu thường trú: Số 146/19, khu phố Thắng Lợi 2, phường D, thành phố D1, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thắng L1, sinh năm: 1949 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1953; bị cáo có 01 người con sinh năm 2011; tiền án: Ngày 19/3/2018, bị Tòa án nhân dân tỉnh B tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo Bản án số 24/2018/HS-PT, chấp hành xong hình phạt ngày 17/01/2020.
Nhân thân:
+ Ngày 02/10/2003, bị Tòa án nhân dân quận Đ, Thành phố H xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 236/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 31/8/2004.
+ Ngày 25/01/2007, bị Tòa án nhân dân quận C, Thành phố H xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 12/HSST. Chấp hành xong hình phạt ngày 20/10/2007.
Tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2021. Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 28/4/2022.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1978; địa chỉ: Số 106 Tân Khai, Phường a, Quậnn b, Thành phố H2, vắng mặt.
Người chứng kiến: Ông Nguyễn C, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp Hòa Hiệp, xã N, huyện N1, tỉnh N2, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 45 phút ngày 06/10/2021, lực lượng trực chốt phòng chống dịch Covid 19 tại khu vực trước cổng Công ty Minh Quân thuộc địa chỉ: 137/3, khu phố 2, Phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương trong lúc làm nhiệm vụ thì phát hiện Nguyễn Ngọc L đang điều khiển xe môtô hai bánh mang biển số 51Z9 – 4656 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu L dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, L khai nhận bản thân có sử dụng ma túy đá và tự nguyện giao nộp cho công an 01 (một) túi nylon miệng kéo dính (viền trắng) lấy từ trong túi quần L đang mặc. Bên trong 01 (một) túi nylon miệng kéo dính (viền trắng) có 01 (một) túi nylon miệng kéo dính loại lớn có viền màu trắng và 01 (một) túi nylon miệng kéo dính loại nhỏ có viền màu xanh đều chứa tinh thể màu trắng, L khai là ma túy nên lực lượng công an lập biên bản và đưa về trụ sở làm việc.
Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc L khai nhận: Tất cả số ma túy nêu trên do L mua của một đối tượng tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực trước công ty sản xuất xà bông (không rõ tên công ty) thuộc phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương với giá 1.000.000 đồng vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 06/10/2021.
Qua kiểm tra tại trung tâm Y tế thành phố Thuận An xác định: Nguyễn Ngọc L có sử dụng ma túy loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính (viền trắng), bên trong có 01 (một) túi nylon miệng kéo dính loại lớn có viền màu trắng (ký hiệu M1) và 01 (một) túi nylon miệng kéo dính loại nhỏ có viền màu xanh (ký hiệu M2) đã được niêm phong theo quy định và 01 (một) xe môtô hai bánh mang biển số 51Z9 – 4656.
Tại bản Kết luận giám định số 670/MT-PC09 ngày 15/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng/trọng lượng 1,9953 gam (M1); 0,1364 gam (M2); Loại Methamphetamine. Tổng khối lượng (M1 + M2) là: 2,1317 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng/trọng lượng 1,7254 gam (M1) và 0,1064 gam (M2), đã được niêm phong ký hiệu 670/PC09.
Tại Bản cáo trạng số 107/CT-VKS-TA ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c, Khoản 1, Điều 249; Điểm s, Khoản 1, Điều 51; Điểm h, Khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng trong vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước xe 01 (một) xe môtô hai bánh mang biển số 51Z9 – 4656.
Bị cáo Nguyễn Ngọc L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Tại yêu cầu xét xử vắng mặt, bị cáo xác định thống nhất toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 28/4/2022, bị cáo Nguyễn Ngọc L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt do Nhà tạm giữ Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xác nhận cùng ngày. Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị cáo xác nhận đã nhận được Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An truy tố và đưa bị cáo ra xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử và phù hợp theo Điểm c, Khoản 2, Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt của bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 45 phút ngày 06/10/2021, tại khu vực trước cổng Công ty Minh Quân thuộc địa chỉ: 137/3, khu phố 2, Phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Ngọc L đã có hành vi cất dấu ma túy loại Methamphetamine với trọng lượng 2,1317 gam để sử dụng thì bị bắt giữ. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Vì vậy Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn là nguyên nhân dẫn đến phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người nghiện ma túy nên nhận thức được tác hại của ma túy và biết hành vi tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện bản chất xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định về hình phạt cần xem xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự như sau:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại Điểm h, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải Điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bì thư đã niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có ký hiệu 670/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) sẽ tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) xe môtô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, dung tích xi lanh 101cm3 mang biển số 51Z9 – 4656 có số khung 5SD1-15903, số máy 5SD1-15903 do ông Nguyễn Thanh T2 đứng tên trong giấy phép đăng ký xe. Ông Nguyễn Thanh T2 xác nhận: Năm 2015, ông T3 đã bán xe môtô trên cho Nguyễn Ngọc L, hai bên chỉ mua bán trao tay chứ không làm thủ tục sang tên, hiện ông T3 không còn liên quan đối với xe trên và không có yêu cầu gì trong vụ án. Lời khai của ông T3 hoàn toàn thống nhất với lời khai của bị cáo L nên xác định xe này là tài sản của bị cáo. Xét thấy đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo Nguyễn Ngọc L, do bị cáo L sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch nộp ngân sách Nhà nước.
Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như phần xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo L, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra, xử lý ở một vụ án khác khi có căn cứ.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm c, Khoản 1, Điều 249; Điểm s, Khoản 1, Điều 51; Điểm h, Khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Điểm 106; Điểm c, Khoản 2, Điều 290; Điều 136, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 670/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) xe môtô hai bánh nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, xi lanh 101cm3 mang biển kiểm soát 51Z9 – 4656, xe cũ đã qua sử dụng, không kiếng chiếu hậu, bể đèn xe sau, không kiểm tra chất lượng bên trong, có số khung, số máy không đổi. Số khung 5SD1-15903, số máy 5SD1-15903 (kèm theo Kết luận giám định số 188A-1SKSM-PC09 ngày 03 tháng 3 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28 tháng 3 năm 2022 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Công an phường D, thành phố D1, tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Bị cáo; - Lưu: HS, THAHS, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tố Uyên THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |