- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với ông Trần Đỗ Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2022/HNGĐ-ST Ngày: 26/9/2022 V/v“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Tường Viên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hồ Hải Hùng
Bà Trần Thị Hiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 497/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số 115/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08/9/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L – Sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn T, xã K, thị xã H, tỉnh Khánh Hòa.
Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn:
Ông Trần Đỗ Đ – Sinh năm 1984
Địa chỉ: Thôn L, xã S, thị xã H, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Kim L trình bày: Bà và ông Trần Đỗ Đ tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã Ninh Sơn. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu, về sau vợ chồng thường xuyên kình cãi nhau do ông Đ hay nhậu nhẹt, cờ bạc mâu thuẫn trầm trọng nhất là vào cuối năm 2020 nên ông bà đã không còn quan tâm và chung sống với nhau nữa. Nay tình cảm giữa bà và ông Đ không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Đỗ Đ.
Về con chung: Bà và ông Đ có 02 con chung tên Trần Quốc H, sinh ngày 02/02/2012 và Trần Quốc K, sinh ngày 10/01/2016. Bà yêu cầu nuôi con chung tên Trần Quốc K, sinh ngày 10/01/2016 và giao con chung tên Trần Quốc H, sinh ngày 02/02/2012 cho ông Đ nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn – ông Trần Đỗ Đ được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không lấy được lời trình bày.
* Tại phiên tòa, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H trình bày quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: nguyên đơn yêu cầu ly hôn là có cơ sở vì tình cảm không còn, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không Đ được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Về con chung: vợ chồng có hai con chung tên Trần Quốc H, sinh ngày 02/02/2012 và Trần Quốc K, sinh ngày 10/01/2016. Bà yêu cầu nuôi con chung tên Trần Quốc K, sinh ngày 10/01/2016 và giao con chung tên Trần Quốc H, sinh ngày 02/02/2012 cho ông Đ nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Xét nguyện vọng của cháu H là được sống chung với ba, cháu K còn nhỏ và hiện nay bà L đang nuôi dưỡng cháu K, ông Đ nuôi dưỡng cháu H nên để đảm bảo quyền lợi cho các cháu cần căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được nuôi con chung tên Trần Quốc K, sinh ngày 10/01/2016 và giao con chung tên Trần Quốc H, sinh ngày 02/02/2012 cho ông Đ nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung: nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Bà L phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã nhiều lần triệu tập lấy lời khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đồng thời tống Đ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Trần Đỗ Đ đều vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về thẩm quyền giải quyết:
Ông Trần Đỗ Đ có hộ khẩu thường trú tại thôn 2, xã Ninh Sơn, thị xã H, tỉnh Khánh Hòa. Do đó Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Kim L yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với ông Trần Đỗ Đ nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim L và ông Trần Đỗ Đ tự nguyện chung sống, kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Ninh Sơn cấp giấy chứng nhận kết hôn số 56/2012, quyển số 01/2012, cấp ngày 01 tháng 10 năm 2012. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim L và ông Trần Đỗ Đ là hợp pháp.
Theo lời trình bày của nguyên đơn thì sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, về sau nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông Đ thường xuyên nhậu nhẹt, chơi cờ bạc nên xảy ra kình cãi nhau làm cho tình cảm vợ chồng rạn nứt, mâu thuẫn căng thẳng trầm trọng nhất vào cuối năm 2020 ông bà đã không còn quan tâm, chung sống với nhau nữa. Ông Trần Đỗ Đ đã được triệu tập đến tòa để thực hiện quyền, nghĩa vụ nhưng không có mặt là tự từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Xét thấy cuộc sống vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau nhưng cuộc sống chung giữa bà L và ông Đ không hạnh phúc, tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không Đ được nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung:
Bà L và ông Đ có hai con chung tên Trần Quốc H, sinh ngày 02/02/2012 và Trần Quốc K, sinh ngày 10/01/2016. Bà L trình bày hiện nay bà đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu K sinh năm 2016 còn ông Đ nuôi dưỡng cháu H sinh năm 2012 nên yêu cầu được nuôi cháu K và giao cháu H cho ông Đ nuôi dưỡng. Xét nguyện vọng của cháu H muốn được ở với ba và cháu K còn nhỏ hơn nữa từ khi vợ chồng không chung sống với nhau vào năm 2020 thì ông Đ nuôi dưỡng cháu H còn bà L nuôi dưỡng cháu K. Ông Đ đã được triệu tập nhưng không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến về nuôi con chung.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn là quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và để đảm bảo cho các cháu có đủ điều kiện phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội nên cần căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung tên Trần Quốc H, sinh ngày 02/02/2012 cho ông Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao con chung tên Trần Quốc K, sinh ngày 10/01/2016 cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.
Sau khi ly hôn, bà L, ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà L không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn và nuôi con chung là có cơ sở chấp nhận và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Quan điểm nói trên của đại diện Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên của Tòa án nên chấp nhận.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim L phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 264, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với ông Trần Đỗ Đ.
2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Quốc H, sinh ngày 02/02/2012 cho ông Trần Đỗ Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Giao con chung tên Trần Quốc K, sinh ngày 10/01/2016 cho bà Nguyễn Thị Kim L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Bà L không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Bà L, ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim L phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0004996 ngày 28/6/2022 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã H. Bà L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thị xã H; - THADS thị xã H; - UBND xã S; (GCNKH số 56/2012 ngày 01/10/2012); - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Huỳnh Tường Viên |