- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phương N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Phương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2021/HS-ST Ngày 26-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Thế Phương
2. Ông Trịnh Văn Đăng
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Trà– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Tiên – Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 26 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 123/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2021/QĐXXST-HS ngày 24/9/2021 đối với bị cáo
Trần Phương N; tên gọi khác: Không; Sinh ngày 13 tháng 3 năm 1997; Nơi sinh: Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp 7, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: N; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt N; Cha là ông Trần Minh D, sinh năm 1975; Mẹ là bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1975; Bị cáo chưa có vợ con
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/4/2021, chuyển tạm giam từ ngày 14/4/2021 cho đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Cơ sở tạm giữ Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Tiền án: 01.Tại bản án số 36/2016/HS-PT ngày 22/2/2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo chưa thi hành xong phần trách nhiệm dân sự của án này.
- Tiền sự: Không
Nhân thân: 01- Tại Quyết định số 07/QĐ-TA, ngày 26/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng. Chấp hành xong ngày 27/9/2018.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố L, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Phương N là người nghiện ma túy nên vào khoảng 16 giờ ngày 05/4/2021 N đi đến khu vực phường Phú Mỹ, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gọi điện thoại cho một người đàn ông tên M (chưa rõ nhân thân, lại lịch) mua trái phép được 01 (một) gói ma túy tổng hợp dạng khay và 03 (ba) viên nén màu cam hình trái tim là ma túy tổng hợp dạng “lắc” với giá 3.250.000 đồng nhằm mục đích để cho bản thân sử dụng. Sau khi mua trái phép được ma túy, N bỏ vào túi quần bên trái của N rồi đi về khu phố Song Vĩnh, phường Tân Phước, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tìm chỗ sử dụng ma túy. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi N đang đứng trước cổng Giáo xứ Song Vĩnh thuộc khu phố Song Vĩnh, phường Tân Phước, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì bị lực lượng Phòng chống ma túy và tội phạm Đồn Biên phòng Long Sơn, Bộ đội Biên phòng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện bắt quả tang Trần Phương N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong có chất kết tinh không màu trong suốt và 03 (ba) viên nén màu cam hình trái tim, 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung galaxy A20S màu xanh -đen, 01 thẻ sim số: 0379.381.941. Quá trình điều tra, Trần Phương N đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã trình bày ở trên.
Tại bản Kết luận giám định số 202/KLGĐ-PC09- MT ngày 09/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận:
Mẫu chất kết tinh không màu - trong suốt chứa trong 01 (một) 01 gói nylon hàn kín (Mẫu A1),được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của Đồn Biên phòng Long Sơn – Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Lê Văn S, Vũ Bá L, Nguyễn Văn S, Trần Phương N, Nguyễn Hữu K, gửi đến giám định có khối lượng 1,6526 gam là ma túy, loại Kentamine.
Ba viên nén màu cam, hình trái tim (Mẫu A2), được niêm phong trong phong bì nêu trên, gửi đến giám định có tổng khối lượng 1,0384 gam, là ma túy loại MDMA
MDMA và Kentamine là chất ma túy nằm trong Danh mục của Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) phong bì niêm phong màu trắng để vụ số 202 ngày 09/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định; 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung galaxy A20S màu xanh -đen, 01 thẻ sim số: 0379.381.941 đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
- Tại bản Cáo trạng số: 134/CT- VKS ngày 02/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Trần Phương N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai của mình tại cơ quan điều tra, khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và phát biểu luận tội, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả do bị cáo gây ra, cũng như đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đề nghị, Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Phương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hành phạt chính: áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo N từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03(ba) năm tù; Về hình phạt bổ sung: Vì bị cáo đang bị tạm giam không có thu nhập nên không đề nghị hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong vụ số 202 ngày 09/4/2021của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung galaxy A20S màu xanh - đen, imel 1: 358244/10/027597/5, imel 2: 358245/10/027597/2, 01 thẻ sim số: 0379.381.941vì bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại và thẻ sim này để liên lạc mua ma túy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định
Về trách nhiệm dân sự: Không
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai trái, nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm được về với gia đình.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan điều tra, viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các điều 88, 98, 105 Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
Về điều luật áp dụng và tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, qua đối chiếu với lời khai tại cơ quan điều tra, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy phù hợp với nhau, do vậy có đủ căn cứ kết luận:
Vào lúc 17 giờ ngày 05/4/2021, tại khu phố Song Vĩnh, phường Tân Phước, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Trần Phương N đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói ma túy loại Kentamine có khối lượng 1,6526 gam và 03 (ba) viên ma túy tổng hợp loại MDMA có khối lượng 1,0384 gam (tổng khối lượng ma túy N tàng trữ trái phép là 2,691 gam), nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật.
Trần Phương N khai nhận số ma túy trên là của N, cất giấu nhằm mục đích để sử dụng.
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo là người nghiện, hơn ai hết bị cáo hiểu rõ tác hại to lớn của ma túy, biết rõ Nhà nước nghiêm cấm tất cả các hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo là người đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích, từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng, lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học cảnh tỉnh cho bản thân, nhưng vì phục vụ cho nhu cầu sử dụng của bản thân nên vẫn bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Với tính chất, mức độ phạm tội như trên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội bằng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo, giúp bị cáo nhận ra lỗi lầm của mình đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo hiện không có việc làm, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không
Đối với người đàn ông tên M (không rõ nhân thân, lai lịch) đã bán trái phép chất ma túy cho Trần Phương N, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ tiếp tục điều tra, xác minh nhân thân, lai lịch. Khi có kết quả sẽ tiến hành điều tra, làm rõ hành vi phạm tội và xử lý theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì niêm phong vụ số 202 ngày 09/4/2021của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định là đối tượng bị Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung galaxy A20S màu xanh - đen, imel 1: 358244/10/027597/5, imel 2: 358245/10/027597/2, 01 thẻ sim số: 0379.381.941 là phương tiện bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Phương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Phương N 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong vụ số 202 ngày 09/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, bên trong chứa mẫu vật ma túy còn lại sau giám định.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung galaxy A20S cũ màu xanh - đen, imel 1: 358244/10/027597/5, imel 2: 358245/10/027597/2, 01 thẻ sim số: 0379.381.941
(Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 106/BB-CCTHADS ngày 03/8/2021.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Phương N phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - PV 06 – Công an tỉnh BR-VT; - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Công an thị xã Phú Mỹ; - CCTHA dân sự thị xã Phú Mỹ; - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; các đương sự; Lưu HS vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Văn Thị Hiền |