vanban.org

Bản án 126/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 04/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T: 12 (mười hai) tháng tù.

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T: 24 (hai mươi tư) tháng tù. Tuyên bố bị cáo Sùng A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BC: Sùng A Say, Quàng Văn Thanh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T: 12 (mười hai) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 126/2021/HS-ST
Ngày 04 - 8 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Hồng Minh

Ông Trịnh Duy Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Quàng Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Năng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2021/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2021, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2021, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Sùng A S (Tên gọi khác: Không) - Sinh năm: 1970; nơi sinh: Tại tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước ngày bị bắt: Bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sùng Sáy C - đã chết và bà Vàng Thị D - đã chết; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/3/2021, sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Quàng Văn T (Tên gọi khác: Không) - Sinh năm: 1987; nơi sinh: Tại tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước ngày bị bắt: Bản N, xã P, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quàng Văn H - đã chết và bà Cà Thị N - sinh năm: 1964; Vợ Lò Thị M

- sinh năm: 1988, bị cáo có hai người con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/3/2021, sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ, ngày 18/3/2021, Quàng Văn T dùng điện thoại Masstel của mình gọi đến điện thoại Itel của Sùng A S rủ đi mua ma túy, S đồng ý. Khoảng 08 giờ cùng ngày, S điều khiển xe mô tô đeo biển kiểm soát 27F7-4399 của mình đến đón T ở khu vực nghĩa trang Bản N, xã P. T điều khiển xe của S, chở S lên bản L, xã M, thấy người đàn ông dân tộc Mông đi bộ ở đường hỏi và biết người đàn ông có ma túy bán, T dừng xe đưa 70.000 đồng nhờ S mua hộ Heroine. T đứng chờ, S cầm tiền đi bộ theo người đàn ông đó khoảng 15 mét thì đặt vấn đề mua 70.000 đồng được 01 gói Heroine gói ngoài bằng nilon màu hồng hộ T. S tự mua cho mình 85.000 đồng ma túy (cụ thể, 60.000đ mua Heroine được 0,25 gam và 25.000đ mua hồng phiến loại Methamphetamine được 0,11g ), ma túy được gói trong mảnh nilon màu hồng. Sau đó S quay lại, đưa gói Heroine mua hộ cho T. T mở ra lấy một ít Heroine cả hai cùng sử dụng, sử dụng xong, T cấu 0,04 gam Heroin của mình gói vào mảnh nilon màu hồng đưa cho S (T nói rõ để trả công cho việc S dùng xe máy trở T đi mua ma túy), còn lại 0,15 gam Heroine T gói lại cầm trên tay trái. S cầm 02 gói ma túy trên tay phải (gồm một gói do T trả công, 01 gói S tự mua). Cả hai mang ma túy về nhằm mục đích để bản thân sử dụng, đến 10 giờ cùng ngày, khi T chở S về đến bản Đ, xã P thì bị tổ công tác Công an xã P, yêu cầu dừng xe để kiểm tra thì T thả gói Heroine đang cầm trong lòng bàn tay trái xuống đường cạnh đầu xe, S thả gói ma túy tự mua và gói Heroine do T trả công đang cầm trên tay phải xuống lòng đường thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại Bản kết luận giám định số 330/GĐ-PC09 ngày 24/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu H1 (vật chứng thu giữ của Quàng Văn T) gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng 0,15 gam.

Tại Bản kết luận giám định số 331/GĐ-PC09 ngày 24/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: 02 mẫu chất bột màu trắng ký hiệu H2, H3 (vật chứng thu giữ của Sùng A S) gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine, khối lượng vật chứng 0,29 gam; Mẫu viên nén màu hồng ký hiệu H4 (vật chứng thu giữ của Sùng A S) gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine, khối lượng vật chứng 0,11 gam.

Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018;

Tại Bản cáo trạng số: 77/CT-VKSTPĐBP ngày 09/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Sùng A S về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Quàng Văn T về các tội: Tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định:

Hành vi trên của bị cáo S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo S từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành các tội: Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55, tổng hợp hình phạt chung của hai tội từ 36 tháng đến 45 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 0,37 gam Heroine và 0,08 gam Methamphetamine (là vật chứng còn lại sau giám định); 03 mảnh nilon màu hồng; Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát xe máy số 27F7-4399.

Tịch thu, sung ngân sách nhà nước: 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, số khung: RLHJA3841LY021262, số máy: JA52E – 0122935, xe cũ đã qua sử dụng, kèm theo 01 chìa khóa xe, không kiểm tra chất lượng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu itel, màu đen, số IMEI 1: 357889100995161, số IMEI 2: 357889100995179, bên trong có 01 (một) sim nhà mạng MobiFone, không kiểm tra bên trong máy; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen - đỏ, số IMEI 1: 355767047789644, số IMEI 2: 355767047789651, bên trong có một sim nhà mạng MobiFone, không kiểm tra bên trong máy.

Về án phí: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Đại diện viện Kiểm sát không có tranh luận gì với viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 18/3/2021, bị cáo Quàng Văn T đã có hành vi dùng điện thoại gọi cho S, rủ S đi mua ma túy và nhờ Sùng A S mua hộ 70.000 đ Heroine. Tại bản L, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, bị cáo S mua của một người đàn ông không quen biết 70.000đ Heroine hộ bị cáo T và tự mua cho mình (S) 85.000đ ma túy (trong đó, 60.000đ mua được 0,25 gam Heroine và 25.000đ mua được 0,11g Methamphetamine), sau khi mua được ma túy, S đưa cho T gói heroine mà S mua hộ T, T lấy một ít để T và S cùng sử dụng, sau đó T dùng 0,04 gam Heroine để trả công S đã dùng xe máy đón T đi mua ma túy, còn lại 0,15 gam Heroine T cất giấu trái phép trên người nhằm mục đích để sử dụng. S nhận gói ma túy T trả công cho mình và cất giấu cùng toàn bộ số ma túy S mua được trên người nhằm mục đích sử dụng. Sau đó, T điều khiển xe máy chở S đi về, đến khu vực bản Đông Mệt, xã P, thành phố Đ thì cả hai bị phát hiện.

Hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ ... trái phép chất ma túy, nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, các bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, bị cáo S đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo T đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và dùng chất ma túy để trả công cho S đã dùng xe máy đón T đi mua ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội lớn, không những xâm phạm những quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn thành phố Đ. Do vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Bị cáo S mua hộ bị cáo T 70.000đ heroine theo yêu cầu của T, hành vi này của các bị cáo có tính chất đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17 của BLHS. Trong vụ án bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê và điều khiển xe của S chở S đi mua ma túy, bị cáo S chuẩn bị xe máy và là người trực tiếp trao đổi, mua ma túy nên các bị cáo đều là người thực hành và có vai trò ngang nhau trong việc tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trước khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, các bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Tại giai đoạn điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố và kết luận:

Bị cáo S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 58 của BLHS xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật, bị cáo không bị oan.

Bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55, tổng hợp hình phạt chung của hai tội từ 36 tháng đến 45 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật, bị cáo không bị oan.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo S còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của luật hình sự; bị cáo T còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của luật hình sự tuy nhiên, các bị cáo thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho S, do không xác định được họ tên, địa chỉ của người nam giới nên không đề cập xử lý trong vụ án.

Bị cáo S tự mua 85.000đ ma túy được 0,25 gam heroine và 0,11 gam Methamphetamine, bị cáo T không biết, nên bị cáo T không phải chịu trách nhiệm đối với số ma túy mà S tự mua.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,37 gam Heroine và 0,08 gam Methamphetamine (là vật chứng còn lại sau giám định), do là vật cấm tàng trữ; 03 mảnh nilon màu hồng, do không có giá trị;

- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước:

+ 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, số khung: RLHJA3841LY021262, số máy: JA52E - 0122935, xe cũ đã qua sử dụng, kèm theo 01 chìa khóa xe, không kiểm tra chất lượng;

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu itel, màu đen, số IMEI 1: 357889100995161, số IMEI 2: 357889100995179, bên trong có 01 (một) sim nhà mạng MobiFone, không kiểm tra bên trong máy;

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen - đỏ, số IMEI 1: 355767047789644, số IMEI 2: 355767047789651, bên trong có một sim nhà mạng MobiFone, không kiểm tra bên trong máy;

Do các bị cáo sử dụng các tài sản trên vào việc phạm tội.

Đối với chiếc biển kiểm soát xe máy số 27F7- 4399 bị cáo S nhặt được và lắp vào chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX của bị cáo, do không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T: 12 (mười hai) tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T: 24 (hai mươi tư) tháng tù.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội, bị cáo Quàng Văn T phải chịu 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 18/3/2021).

2. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Sùng A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Sùng A S 18 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 18/3/2021).

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,37 gam Heroine và 0,08 gam Methamphetamine (là vật chứng còn lại sau giám định); 03 mảnh nilon màu hồng; 01 chiếc biển kiểm soát xe máy số 27F7-4399.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

+ 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, số khung: RLHJA3841LY021262, số máy: JA52E - 0122935, xe cũ đã qua sử dụng, kèm theo 01 chìa khóa xe, không kiểm tra chất lượng;

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu itel, màu đen, số IMEI 1: 357889100995161, số IMEI 2: 357889100995179, bên trong có 01 (một) sim nhà mạng MobiFone, không kiểm tra bên trong máy;

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen - đỏ, số IMEI 1: 355767047789644, số IMEI 2: 355767047789651, bên trong có một sim nhà mạng MobiFone, không kiểm tra bên trong máy.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/7/2021 giữa cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ).

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04/8/2021).

Cỡ chữ