- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Đàm Văn C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đàm Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2021/ HS-ST Ngày 09 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bế Thị Thùy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Tâm và ông Phương Văn Tư.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Noọng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh - tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Bà Ma Kim Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 123/2021/TLST - HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2021/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Đàm Văn C, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05 tháng 10 năm 1985 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Cán bộ; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Đàm Văn C (đã chết); Con bà Hứa Thị H (đã chết); Vợ: Nông Thị Hài (sinh năm: 1988) và 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 25/8/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nông Thị H, sinh năm 1988; trú tại: xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
* Người làm chứng:
- Hoàng Văn Đ, sinh năm: 1995;
- Lưu Văn V, sinh năm 1989; Cùng trú tại: xóm L, xã N, huyện T, tỉnh Cao Bằng;
- Nông Văn K, sinh năm: 1983; trú tại: xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng;
(Đều vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 30 phút ngày 25/8/2021, tổ công tác Đội kiểm soát Hải Quan tỉnh Cao Bằng phối hợp với Đội điều tra tổng hợp Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực đường tỉnh lộ 206 thuộc xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng phát hiện Đàm Văn C, sinh năm 1985, trú tại xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11F9 - 7237 có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành dừng phương tiện kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên phải của C đang mặc có 01 (một) gói thuốc lá nhãn hiệu GOLD LION, bên trong có một gói giấy màu trắng, có chứa 01 (một) cục chất rắn màu trắng, C khai nhận là Heroine; kiểm tra phát hiện trong túi quần bên trái phía trước Chuẩn đang mặc có số tiền 2.550.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme; 04 (bốn) mảnh giấy bạc màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ vật chứng đúng theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành cân số chất bột màu trắng có khối lượng 1,17g (một phẩy một bảy gam). Cơ quan điều tra tiến hành trích lấy mẫu gửi trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 316/GĐMT ngày 31/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là Ma túy. Loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Đàm Văn C khai nhận, bản thân nghiện ma túy từ tháng 6 năm 2021. Loại ma túy sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là hít. C khai, số ma túy bị thu giữ là do C nhờ một người đàn ông không quen biết ở xã P, huyện T mua giúp ma túy với số tiền là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Sau đó, C đem về chia nhỏ ma túy ra để sử dụng và bán lại cho những người nghiện. C khai nhận, đã được bán ma túy từ đầu tháng 8 năm 2021 cho đến ngày bị bắt, cho những người sau:
- Bán ma túy cho Hoàng Văn Đ, sinh năm 1995, trú tại xóm L, xã N, huyện T, tỉnh Cao Bằng 01 (một) lần với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng);
- Bán ma túy cho Lưu Văn V, sinh năm 1989, trú tại xóm L, xã N, huyện T, tỉnh Cao Bằng 02 (hai) lần, mỗi lần bán với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng);
- Bán ma túy cho Nông Văn K, sinh năm 1983, trú tại xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng 02 (hai) lần, mỗi lần bán với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng);
Địa điểm bán ma túy tại Trạm bơm nước thuộc xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
Ngoài ra, bị cáo còn được bán ma túy cho một số người khác nhưng không biết tên, địa chỉ.
Lời khai của Đàm Văn C phù hợp lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp, kết luận giám định, kết quả cân khối lượng Heroine và những vật chứng, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Toàn bộ vật chứng bị tạm giữ đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh ra quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản cáo trạng số 127/CT-VKSTK ngày 11 tháng 11 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo Đàm Văn C ra trước Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,:
Bị cáo Đàm Văn C thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nông Thị H yêu cầu được trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 11F9 - 7237 vì tại thời điểm mua xe, chị H chưa có giấy phép lái xe nên đã cho bị cáo Đàm Văn C đứng tên đăng ký chủ tài sản, và số tiền 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng) mua xe là tiền của chị H bỏ ra.
Kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận định bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức về tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đàm Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo C. Xử phạt bị cáo Đàm Văn C từ 07 (bảy) - 08 (tám) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước ghi “vật chứng vỏ bao thuốc lá, 01 (một) mảnh giấy màu trắng và chất rắn màu trắng vụ Đàm Văn C - Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng, ngày 25/8/2021”. Mặt sau phong bì có chữ ký của Đàm Văn C và thành phần tham gia biên bản và đóng hình con dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh; 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “04 (bốn) mảnh giấy bạc màu vàng, thu giữ đối với Đàm Văn C, ngày 25/8/2021”. Mặt sau phong bì có chữ ký của C và thành phần tham gia biên bản;
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “ 01 (một) điện thoại di động tạm giữ của Đàm Văn C, ngày 25/8/2021 tại xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng”. Mặt sau phong bì có chữ ký của C và thành phần tham gia biên bản;
- Truy thu số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, được trừ đi trong tổng số tiền 2.550.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) đã tạm giữ đối với bị cáo C.
- Trả lại cho bị cáo C số tiền 1.550.000 đồng (một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) cho bị cáo do không liên quan đến hành vi mua bán ma túy nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 11F9 - 7237 cho Nông Thị H, sinh năm 1988 (trú tại: xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng.)
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết hợp với các lời khai của những người làm chứng đã khai tại Cơ quan điều tra về cách thức mua bán ma túy, thời gian, địa điểm cũng như số lần mua bán ma túy đã thực hiện, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo C. Cụ thể: Hồi 07 giờ 30 phút ngày 25/8/2021, tổ công tác Đội kiểm soát Hải Quan tỉnh Cao Bằng phối hợp với Đội điều tra tổng hợp Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực đường tỉnh lộ 206 thuộc xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng phát hiện bắt quả tang Đàm Văn C, sinh năm 1985, trú tại xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng có hành vi tang trữ 1,17g (một phẩy một bảy gam) Heroine. Mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Trước khi bị bắt, C đã bán ma túy 05 (năm) lần cho 03 (ba) người nghiện ma túy, thu được 1.000.000 đồng. Ngoài ra, Đàm Văn C còn được bán ma túy cho nhiều người nghiện khác nhưng không nhớ tên, địa chỉ.
Do vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để kết tội bị cáo Đàm Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được và biết rõ tác hại của ma túy, hiểu được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và hiểu được các quy định của Nhà nước về nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy nhưng thấy lợi nhuận cao từ bán ma túy nên đã bất chấp pháp luật để thưc hiện. Việc làm của bị cáo đã tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng, làm giảm sút sức lao động, hủy hoại đến sức khỏe và trí tuệ của con người, khiến dư luận và nhân dân địa phương bất bình, và là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm khác; xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; hành vi phạm tội của bị cáo còn thể hiện sự coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo C bán ma túy nhiều lần, mỗi lần bán đều cấu thành tội phạm độc lập nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Chuẩn không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên không được coi là có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi mua bán ma túy của mình và tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo C; Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đàm Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) - 08 (tám) năm tù. Xét thấy mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Các nhận định khác:
Về nguồn gốc số Heroine, bị cáo C khai mua với một người đàn ông không biết tên, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh không có cơ sở để điều tra, xác minh nên không đề nghị xử lý trong vụ án này là đúng quy định của pháp luật.
Đối với các đối tượng nghiện ma túy Hoàng Văn Đ, Lưu Văn V, Nông Văn K khai được mua ma túy với bị cáo C về để sử dụng, theo quy định của pháp luật không truy cứu trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 11F9
- 7237 được Đàm Văn C dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được số tiền 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng) bỏ ra để mua chiếc xe là của chị Nông Thị H (vợ bị cáo C), khi anh C sử dụng xe để thực hiện hành vi mua bán ma túy chị không biết; do tại thời điểm mua xe, chị H chưa có giấy phép lái xe nên đã cho bị cáo Đàm Văn C đứng tên đăng ký chủ tài sản. Do đó, cần trả lại chiếc xe trên cho Nông Thị H, sinh năm 1988 (trú tại: xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng.)
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước ghi “vật chứng vỏ bao thuốc lá, 01 (một) mảnh giấy màu trắng và chất rắn màu trắng vụ Đàm Văn C - Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng, ngày 25/8/2021”. Mặt sau phong bì có chữ ký của Đàm Văn C và thành phần tham gia biên bản và đóng hình con dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh; 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “04 (bốn) mảnh giấy bạc màu vàng, thu giữ đối với Đàm Văn C, ngày 25/8/2021”. Mặt sau phong bì có chữ ký của C và thành phần tham gia biên bản;
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “ 01 (một) điện thoại di động tạm giữ của Đàm Văn C, ngày 25/8/2021 tại xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng”. Mặt sau phong bì có chữ ký của C và thành phần tham gia biên bản;
- Tại phiên tòa, xác định được bị cáo C đã được bán ma túy 05 (năm) lần cho 03 (ba) người nghiện ma túy, thu được 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, được trừ đi trong tổng số tiền 2.550.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) đã tạm giữ đối với bị cáo C.
- Trả lại cho bị cáo C số tiền 1.550.000 đồng (một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) cho bị cáo do không liên quan đến hành vi mua bán ma túy nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 11F9 - 7237 cho Nông Thị H, sinh năm 1988 (trú tại: xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng.)
Về án phí: Bị cáo Đàm Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đàm Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Đàm Văn C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/8/2021;
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo C.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước ghi “vật chứng vỏ bao thuốc lá, 01 (một) mảnh giấy màu trắng và chất rắn màu trắng vụ Đàm Văn C - Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng, ngày 25/8/2021”. Mặt sau phong bì có chữ ký của Đàm Văn C và thành phần tham gia biên bản và đóng hình con dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh; 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “04 (bốn) mảnh giấy bạc màu vàng, thu giữ đối với Đàm Văn C, ngày 25/8/2021”. Mặt sau phong bì có chữ ký của C và thành phần tham gia biên bản;
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “ 01 (một) điện thoại di động tạm giữ của Đàm Văn C, ngày 25/8/2021 tại xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng”. Mặt sau phong bì có chữ ký của C và thành phần tham gia biên bản;
- Truy thu số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, được trừ đi trong tổng số tiền 2.550.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) đã tạm giữ đối với bị cáo C.
- Trả lại cho bị cáo C số tiền 1.550.000 đồng (một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) cho bị cáo do không liên quan đến hành vi mua bán ma túy nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS biển kiểm soát 11F9 - 7237 cho Nông Thị H, sinh năm 1988 (trú tại: xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng.)
Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/11/2021.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị cáo Đàm Văn C, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cao Bằng; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - Sở tư pháp; - VKSND huyện TK; - Công an huyện; Nhà tạm giữ CATK; - Chi cục THADS huyện TK; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS vụ án; - Lưu án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bế Thị Thùy Linh |