vanban.org

Bản án 126/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 04/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù Ih từ ngày 21/3/2020. Buộc bị cáo Huỳnh Văn Đ b i thường chi ph thuốc men viện ph mai táng cho gia đình bị hại (chị Huỳnh Thị H ng A1 là vợ của bị hại Bùi Thanh M) số tiền 39.224.055 (ba mươi ch n triệu hai tră… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "126 Huỳnh Văn Đ 260 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2020/HS-ST
Ngày 04 - 9 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Ngọc Mạnh

Bà Lại Thị Đắc

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Diểm – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2020 tại tr s Tòa án nhân dân u n 8 Thành phố H Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 117/2020/TLST-HS ngày 08/7/2020, theo uyết định đưa v án ra xét xử số: 149/2020/ ĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn Đ; sinh năm: 1989 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp OL, xã VA huyện NH, tỉnh CM; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới Ih: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn A và bà Dương Thị U; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 21/3/2020 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Anh Bùi Thanh M sinh năm: 1977; nơi cư trú (Hộ khẩu thường trú: xã Phú Lộc Tây 3 thị trấn Diên Khánh huyện Diên Khánh tỉnh Khánh Hòa) (đã chết).

Người kế thừa quyền và nghĩa v tố t ng của bị hại Bùi Thanh M:

1/ Chị Huỳnh Thị H ng A1 sinh năm 1980 (là vợ của anh Bùi Thanh M).

2/ Trẻ Bùi Thanh D, sinh ngày 10/11/2006 (là con ruột của anh Bùi Thanh M).

3/ Trẻ Bùi Thanh H ng P, sinh ngày 19/01/2012 (là con ruột của anh Bùi Thanh M).

Người đại diện theo hợp pháp của các trẻ Bùi Thanh D, Bùi Thanh H ng P: Chị Huỳnh Thị H ng A1 (là mẹ ruột).

4/ Ông Bùi E sinh năm 1950 (là cha ruột của anh Bùi Thanh M).

Cùng nơi cư trú (Hộ khẩu thường trú: xã Phú Lộc Tây 3 thị trấn Diên Khánh huyện Diên Khánh tỉnh Khánh Hòa) (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của chị N1, ông E:

1/ Anh Bùi H ng sinh năm 1987 (vắng mặt)

2/ Chị Bùi Thị Vân R sinh năm 1989 (có mặt)

Cùng nơi cư trú (Hộ khẩu thường trú: Thôn GM, xã ST huyện DK tỉnh KH).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 03/11/2019, Huỳnh Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 77X9-1521 lưu thông trên đường L Phường M u n B hướng từ Võ Văn Kiệt với đường L về ngã 3 Đường Đ1 - Đường L. Khi đến trước số 6A Đường L, Phường M u n B đã va chạm vào xe mô tô biển số 51B5-9053 do anh Bùi Thanh M điều khiển lưu thông từ trong chung cư Ehome, Đường L, qu n BT đi ra đường L Phường M u n B. H u quả làm 02 xe ngã anh M, Đ bị thương đưa vào bệnh viện cấp cứu. Đến 08 giờ 08 phút ngày 04/11/2019 anh M tử vong tại bệnh viện Chợ Rẫy Huỳnh Văn Đ được cấp cứu tại bệnh viện 115.

Theo bản kết lu n giám định pháp y về tử thi số 1396 ngày 03/12/2019 của Trung Tâm Pháp Y Thành phố H Ch Minh kết lu n anh Bùi Thanh M chết do đa chấn thương.

Hiện trường xảy ra tai nạn là ngã ba đường L – đường vào chung cư Ehome được rải nhựa bằng phẳng. Đường L rộng 08m áp d ng lưu thông hai chiều cho tất cả các loại xe lưu thông. Mặt đường vào chung cư Ehome rộng 07m áp d ng lưu thông hai chiều cho tất cả các loại xe.

Khám nghiệm hiện trường: lấy lề bên trái theo chiều xe mô tô biển số 77X9-1521 lưu thông làm lề đo cố định lấy đơn vị mét (m) làm đơn vị đo. Lấy tiếp tuyến bên trái đường vào chung cư Ehome hướng từ chung cư Ehome về đường L làm điểm giằng cố định hiện trường.

Từ tâm tr c bánh xe trước xe mô tô biển số 51P5-9053 đo đến tiếp tuyến là 8 7m. Sau tai nạn xe mô tô biển số 51P5-9053 ngã sang phải đầu xe hướng về lề cố định đuôi xe hướng về đối diện lề cố định từ tâm tr c trước sau xe mô tô biển số 51P5-9053 đo vào lề cố định lần lượt có k ch thước là (1 6m và 2 8m). Tâm tr c bánh trước xe mô tô biển số 51P5-9053 đo đến tâm tr c bánh trước xe mô tô biển số 77X9-1521 có kích thước là (1 5m).

Sau tai nạn xe mô tô biển số 77X9-1521 ngã sang phải đầu xe hướng về lề cố định và đuôi xe ngược lại. Từ tâm tr c trước sau xe mô tô biển số 77X9-1521 đo vào lề cố định lần lượt có k ch thước là (2 4m và 3 8m).

Tại Bản giám định số 1068 ngày 10/02/2020 của Viện khoa học hình sự phân viện khoa học hình sự tại Thành phố H Ch Minh kết lu n: Dấu vết trượt xước gãy vỡ cong biến dạng các chi tiết ph a trước xe mô tô biển số 77X9-1521 (g m: cung trước chắn bùn bánh trước cổ lái lốp bánh trước) có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước gãy vỡ các chi tiết bên trái xe mô tô biển số 51P5-9053 (g m:cung sau chắn bùn bánh trước ống dẫn bộ chế hòa kh ốp bên trái đầu qui lát) có chiều từ trái sang phải.

Trên cơ s cơ chế hình thành dấu vết và h sơ v tai nạn giao thông đường bộ nêu trên xác định:

- Ph a trước xe mô tô biển số 77X9-1521 và bên trái xe mô tô biển số 51P5-9053 là vị tr va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.

- Vị tr va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường thuộc phần đường bên phải đường L theo hướng từ đường PĐ1 đến đường Võ Văn Kiệt.

Nguyên nhân xảy ra tai nạn do Huỳnh Văn Đ trong người có sử d ng rượu bia có n ng độ c n 0 66 mg/l, điều khiển xe mô tô biển số 77X9-1521 có dung tích xi lanh trên 50cm3 không có giấy phép lái xe theo quy định, lưu thông thiếu quan sát xung quanh và lấn trái sang phần đường ngược chiều. Do không làm chủ được tay lái xử lý tình huống kém dẫn đến h u quả xảy ra tai nạn giao thông làm anh Bùi Thanh M tử vong. Anh Bùi Thanh M điều khiển xe đi đúng phần đường khi tham gia giao thông, không có lỗi, sau tai nạn đã chết.

Ngày 02/03/2020 Công an u n 8 kh i tố v án kh i tố bị can và ngày 21/3/2020 bắt tạm giam đối với Huỳnh Văn Đ để điều tra làm rõ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an u n 8 Huỳnh Văn Đ khai nh n khoảng 22 giờ ngày 03/11/2019 sau khi đi dự tiệc qu n BT và ra về đến nơi xảy ra tai nạn Đ đã gây ra tai nạn cho anh Bùi Thanh M. Lời khai của Đ phù hợp với biên bản hiện trường tử thi các dấu vết trên phương tiện tham gia gia thông và tài liệu chứng cứ khác có trong h sơ v án.

Xe mô tô biển số 77X9-1521, xác minh do bà H1 đứng tên trong giấy đăng ký xe. Bà H đưa cho anh Huỳnh Văn I (con Bà H) sử d ng. Sau đó I bán cho người khác không làm thủ t c sang tên. Đ khai mua xe trên của người tên Hải (không rõ địa chỉ) không làm thủ t c mua bán. Ngày 19/11/2019, Đ sử d ng đi lại và gây tai nạn Đ có yêu cầu nh n lại xe này. Công an u n 8 đã đăng tin tìm chủ s hữu hợp pháp đến nay vẫn chưa có kết quả.

Xe mô tô biển số 51P5-9053, xác minh do anh Nguyễn Anh H2 đứng tên trong giấy đăng ký xe. Anh H2 sử d ng sau đó mang đi cầm tại tiệm cầm đ (không rõ địa chỉ) nhưng không đến chuộc lại nên bị cửa hàng cầm đ thanh lý. Sau đó anh M mua lại từ cửa hàng cầm đ và ngày 19/11/2019 anh M sử d ng và bị tại nạn. Anh Bùi H ng (em ruột anh M) là người được ủy quyền của gia đình bị hại xin được nh n lại xe mô tô biển số 51P5-9053 của anh Bùi Thanh M. Công an u n 8 đã đăng tin tìm chủ s hữu đến nay vẫn chưa có kết quả.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi H ng (em ruột anh M) và chị Bùi Thị Vân R (em ruột anh M) là người được ủy quyền của chị N1 và ông E trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, yêu cầu bị cáo Huỳnh Văn Đ b i thường tiền viện ph thuốc điều trị và chi phí mai táng cho anh M, tổng cộng là 39.224.055 (ba mươi ch n triệu hai trăm hai mươi bốn ngàn không trăm năm mươi lăm) đ ng và yêu cầu bị cáo cấp dưỡng cho hai con của anh Bùi Thanh M lần lượt đến 18 tuổi c thể yêu cầu số tiền 2.000.000 đ ng/tháng (tức mỗi trẻ 1.000.000 đ ng/tháng) tổng cộng là 162.000.000 đ ng.

Tại bản Cáo trạng số 121/CT-VKSQ8 ngày 06/7/2020 Viện kiểm sát nhân dân u n 8 Thành phố H Ch Minh truy tố bị cáo Huỳnh Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a b Khoản 2 Điều 260 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân u n 8 Thành phố H Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Huỳnh Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Sau khi phân t ch đánh giá Ih chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp d ng điểm a b Khoản 2 Điều 260; điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ từ 03 năm đến 04 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: đề nghị buộc bị cáo b i thường tiền viện ph thuốc điều trị và tiền mai táng cho bị hại tổng cộng 39.224.055 đ ng và cấp dưỡng cho hai con của anh Bùi Thanh M lần lượt đến 18 tuổi theo quy định của Bộ lu t Dân sự.

+ Về xử lý v t chứng: Hiện chưa xác định được chủ s hữu hợp pháp của 02 chiếc xe biển số mô tô biển số 77X9-1521 và 51P5-9053, nên cần tiếp t c đăng thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm để truy tìm và trả lại cho chủ s hữu hợp pháp. Nếu quá hạn mà không có người thừa nh n thì trả lại xe mô tô biển số 77X9-1521 cho bị cáo Huỳnh Văn Đ và trả lại xe mô tô biển số 51P5-9053 cho chị Huỳnh Thị H ng A1 (là vợ của bị hại Bùi Thanh M).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an u n 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân u n 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ lu t tố t ng hình sự. uá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong h sơ v án xác định: Vào khoảng 22 giờ ngày 03/11/2019 bị cáo Huỳnh Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 77X9-1521 tham gia giao thông nhưng có sử d ng rượu bia có n ng độ c n 0 66 mg/l và điều khiển xe trên 50cm3 nhưng không có giấy phép lái xe, lưu thông trên đường L Phường M u n B, khi đi đến trước nhà số 6A Đường L, Phường M u n B do không làm chủ được tay lái xử lý tình huống kém điều khiển xe lấn trái đã để xe đ ng vào đầu xe bên trái xe mô tô biển số 51P5-9053 do anh Bùi Thanh M điều khiển trên phần đường của anh M gây tai nạn h u quả làm cho hai xe té ngã anh Bùi Thanh M bị tử vong Đ bị thương.

Điều 260 của Bộ lu t hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như sau:

1/ Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2/ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a/ Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b/ Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác.

...

5) Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự bị cáo điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo quy định; trong tình trạng có sử d ng rượu bia mà trong máu hoặc hơi th có n ng độ c n vượt quá mức quy định. Đ ng thời khi tham gia giao thông bị cáo điều khiển xe mô tô lấn trái sang phần đường ngược chiều mà không quan sát xung quanh; làm xảy ra v tai nạn giao thông mà h u quả làm chết 01 người. Hành vi của bị cáo Huỳnh Văn Đ đã vi phạm vào khoản 8 và 9 của Điều 8 khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 58 Lu t Giao thông đường bộ Việt Nam.

Do đó hành vi của bị cáo Huỳnh Văn Đ đã phạm vào các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ lu t hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Trong v án này bị cáo Huỳnh Văn Đ là người có lỗi hoàn toàn, bị hại Bùi Thanh M lưu thông đúng phần đường, hoàn toàn không có lỗi. Như v y Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Huỳnh Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm a b khoản 2 Điều 260 Bộ lu t hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây ảnh hư ng xấu đến việc giữ gìn tr t tự an toàn giao thông. Xét t nh nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo giáo d c bị cáo tr thành người có ch có ý thức tuân theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa phạm tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có cơ s đúng người đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân u n 8 đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với Ih chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án tiền sự phạm tội lần đầu. Vì v y Hội đ ng xét xử áp d ng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức v cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Hội đ ng xét xử xét thấy không cần thiết áp d ng đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: uá trình điều tra, đại diện hợp pháp của gia đình bị hại có yêu cầu bị cáo b i thường tiền viện ph thuốc điều trị và tiền mai táng cho bị hại tổng cộng 39.224.055 (ba mươi ch n triệu hai trăm hai mươi bốn ngàn không trăm năm mươi lăm) đ ng. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của gia đình bị hại yêu cầu bị cáo Huỳnh Văn Đ cấp dưỡng cho hai con của anh Bùi Thanh M và chị Huỳnh Thị H ng A1 là trẻ Bùi Thanh D, sinh ngày 10/11/2006 và trẻ Bùi Thanh H ng P sinh ngày 19/01/2012 lần lượt đến 18 tuổi c thể yêu cầu số tiền 2.000.000 đ ng/tháng (tức mỗi trẻ 1.000.000 đ ng/tháng). Bị cáo đ ng ý b i thường thiệt hại và cấp dưỡng theo yêu cầu của gia đình bị hại. Xét thấy, yêu cầu của đại diện hợp pháp của gia đình bị hại có căn cứ và phù hợp và cũng như được bị cáo đ ng ý do đó Hội đ ng xét xử ghi nh n buộc bị cáo b i thường và cấp dưỡng số tiền trên theo quy định tại Điều 591 của Bộ lu t Dân sự 2015.

Về xử lý v t chứng:

- Xe mô tô biển số 77X9-1521 và 51P5-9053 hiện nay chưa xác định được chủ s hữu hợp pháp, nên cần tiếp t c tạm giữ và đăng tin thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 năm để truy tìm và trả lại cho chủ s hữu hợp pháp nếu quá hạn mà không có người thừa nh n hợp pháp thì trả lại xe mô tô biển số 77X9-1521 cho bị cáo Huỳnh Văn Đ và trả lại xe mô tô biển số 51P5-9053 cho chị Huỳnh Thị H ng A1 (là vợ của bị hại Bùi Thanh M) là người đang quản lý hợp pháp chiếc xe và không có ai tranh chấp đối với chiếc xe trên.

Về án ph hình sự sơ thẩm và án ph dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại các điều 23, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v uốc hội bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm và án ph dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Căn cứ vào điểm a điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ lu t hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù Ih từ ngày 21/3/2020.

- Căn cứ vào các điều 357, 468 và 591 của Bộ lu t Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Huỳnh Văn Đ b i thường chi ph thuốc men viện ph mai táng cho gia đình bị hại (chị Huỳnh Thị H ng A1 là vợ của bị hại Bùi Thanh M) số tiền 39.224.055 (ba mươi ch n triệu hai trăm hai mươi bốn ngàn không trăm năm mươi lăm) đ ng và phải cấp dưỡng cho hai con của anh Bùi Thanh M và chị Huỳnh Thị H ng A1 là trẻ Bùi Thanh D, sinh ngày 10/11/2006 và trẻ Bùi Thanh H ng P, sinh ngày 19/01/2012 lần lượt cho đến khi 02 trẻ đủ 18 tuổi; mức cấp dưỡng là 2.000.000 đ ng/tháng (tức mỗi trẻ 1.000.000 đ ng/tháng). Thi hành khi bản án có hiệu lực pháp lu t.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp lu t cơ quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo chưa thi hành đầy đủ khoản tiền b i thường cấp dưỡng theo mức nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các điều 357 468 của Bộ lu t Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

- Về v t chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ lu t hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự năm 2015; các điều 221 228 Bộ lu t Dân sự năm 2015.

Tiếp t c tạm giữ và đăng tin thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm để truy tìm và trả lại cho chủ s hữu hợp pháp đối với xe mô tô biển số 77X9-1521 và xe mô tô biển số 51P5-9053; nếu quá thời hạn mà không có người thừa nh n hợp pháp thì:

- Trả lại xe mô tô biển số 77X9-1521 số máy FMHV-331199 số khung MN7H-001199 cho bị cáo Huỳnh Văn Đ.

- Trả lại xe mô tô biển số 51P5-9053 số máy 01218045 số khung 080045 cho chị Huỳnh Thị H ng A1 (là vợ của bị hại Bùi Thanh M)

(Theo phiếu nh p kho số 125/PNK l p ngày 03/7/2020 của C CSĐT Công an u n 8. TP.HCM).

- Căn cứ vào các điều 135 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v uốc hội.

Buộc bị cáo Huỳnh Văn Đ nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đ ng án ph hình sự sơ thẩm và 2.261.203 đ ng án ph dân sự sơ thẩm.

Bị cáo người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ